Hôm nay, ngày 15 tháng 8 năm 2018
Cỡ chữ: A+ A-
HUYỆN UỶ TÁNH LINH | GIỚI THIỆU

Điều kiện tự nhiên huyện Tánh Linh

18.6.2012 - 15:23

Tánh Linh là một huyện miền núi được chia tách từ huyện Đức Linh từ năm 1983; toàn huyện có 14 đơn vị hành chính gồm 13 xã và 01 thị trấn; diện tích tự nhiên toàn huyện là 117.422 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm trên 75%; dân số khoảng 102.884 người.

         Thị trấn Lạc Tánh, huyện Tánh Linh

          Vị trí địa lý: Tánh Linh là huyện miền núi vùng cực Nam Trung Bộ, giáp với Tây Nguyên là cửa ngõ giao thông đường bộ khu vực phía Tây Nam tỉnh Bình Thuận và cách thành phố Phan Thiết khoảng 100 km; phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp với huyện Hàm Tân và huyện Hàm Thuận Nam, phía Đông giáp huyện Hàm Thuận Bắc và Hàm Thuận Nam, phía Tây với huyện Đức Linh và tỉnh Đồng Nai; như vậy, Tánh Linh có vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương.

          Địa hình: có 2 dạng chủ yếu; Dạng địa hình núi, bao gồm núi cao và trung bình (cao từ 1.000 - 1.600m) phân bố chủ yếu ở phía Bắc huyện, giáp với tỉnh Lâm Đồng (núi Bnompanghya và núi Ông ...); núi thấp (cao từ 200 - 800m) tập trung phía Nam huyện (núi Dangdao, Cà Tong); đồi lượn sóng (cao 20 - 150m) bao gồm những đồi đất xám, đất đỏ vàng, chạy theo hướng Bắc - Nam hoặc xen kẽ ở những vùng núi thấp. Dạng địa hình đồng bằng gồm địa hình bậc thềm sông (cao từ 2 - 10m) dọc theo sông La Ngà tập trung chủ yếu ở các xã như Đồng Kho, Huy Khiêm, Bắc Ruộng; địa hình trũng ven sông La Ngà và các nhánh suối nhỏ, ven hồ Biển Lạc, tập trung ở các xã như Gia An, Huy Khiêm và thị trấn Lạc Tánh, đây là vùng trọng điểm lương thực của huyện Tánh Linh.
 
          Sông La Ngà, huyện Tánh Linh
 
            Khí hậu: Tánh Linh có 2 mùa mưa và khô rõ rệt; mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau; mang tính chuyển tiếp giữa chế độ mưa của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và vùng đồng bằng ven Biển. Vì vậy, Tánh Linh là vùng ẩm nhất tỉnh Bình Thuận, chỉ số ẩm ướt trong năm đều trên 2; chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam (từ tháng 5 đến tháng 10) và gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau).Lượng mưa trùng bình trong năm tương đối cao (từ 2.000 - 2.500 mm), tập trung theo mùa, chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp. Mùa nắng kéo dài, số giờ nắng trong năm cao (khoảng 8 giờ/1 ngày); tổng lượng bức xạ năm vào khoảng 140kcl/cm2/năm; độ ẩm không khí trung bình trong năm từ 70 - 85%, độ ẩm không khí cao từ tháng 6 đến tháng 11 đạt khoảng 84,3 - 86,9%. Nhìn chung, huyện Tánh Linh có nguồn nước dồi dào, đảm bảo được phần nào việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác. Tuy nhiên do lượng mưa tập trung theo mùa, địa hình nhiều đồi núi nên hiện tượng hạn hán cục bộ vào mùa khô hoặc lũ quét, sạt lỡ vào mùa mưa thường xảy ra tại một số nơi trên địa bàn huyện.
 
            Dân số: Theo số liệu thống kê năm 2011 dân số của huyện Tánh Linh là 102884 nhân khẩu, bao gồm 15999 nhân khẩu thành thị (chiếm 15,56%) và 86.885 nhân khẩu nông thôn (chiếm 84,44%); mật độ dân số bình quân 87 người/ km2 (khu vực đô thị 418 người/km2). Dân cư của huyện phân bố không đồng đều giữa các xã; trong đó, xã Gia An là xã đông dân nhất với 14.228 người, xã ít nhất là xã La Ngâu với 2126 người (xã thuần dân tộc). Trong những năm qua, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được chú trọng, mức giảm sinh hàng năm được duy trì. Tánh Linh là vùng đất có nhiều dân tộc chung sống, ngoài dân tộc Kinh sinh sống chủ yếu ở vùng đồng bằng, còn có 18 dân tộc ít người đang sinh sống trên địa bàn huyện (dân tộc K’Ho, Chăm, Gia rai, Nùng, Raglai, Bana, Eđê, Tày, Thái, Dao …).
 
          Tài nguyên khoáng sản: Theo tài liệu địa chất của Viện Địa chất Khoáng sản, Tánh Linh có những khoáng sản như: Sét gạch ngói các xã Gia An, Nghị Đức, Đức Phú và Bắc Ruộng; lớp sét được tích tụ từ sông La Ngà kéo dài từ huyện Tánh Linh đến Võ Đắc (huyện Đức Linh) dài 25 Km, rộng từ 5 - 8 km. Sét có màu xanh hoặc trắng, chiều dày từ 2 - 3m thành phần khoáng chất gồm Caolin 80%, monmoryolit 20%. Nước khoáng có trữ lượng lớn, lộ thiên, có diện tích khoảng 600 ha, nước lộ dạng chùm mạch, xung quanh nguồn nước là đá Granit - Biotit phức hệ Ankroet, nước thoát ra ở gần chân núi Ông ở phần dứt gãy, nước trong, nhiệt độ 380C, pH = 7, lưu lượng 0,36l/s, tổng độ khoáng vừa phải, giàu hàm lượng acid Silic và Bicacbonat-Natri. Nếu xử lý bảo vệ môi trường và đầu tư khai thác hợp lý sẽ có gía trị cao, đồng thời sẽ hình thành cụm du lịch, chữa bệnh ở vùng này. Cát xây dựng phân bố dọc theo dòng sông La Ngà, phần tập trung và có điều kiện khai thác là khu vực xã La Ngâu và khu vực gần cầu Tà Pao thuộc xã Đồng Kho. Cát có màu xám phớt vàng, kích thước hạt từ mịn đến trung bình, thành phần hạt chủ yếu là Thạch Anh. Đá Granit, cuội, sỏi Laterit, Đá Granit phân bố rải rác ở các xã Huy Khiêm, Gia An…; trong đó tập trung chủ yếu xung quanh khu vực núi Ông thuộc xã Đức Bình, đá có màu trắng chấm đen, độ nguyên khối cao chủ yếu dùng làm đá chẻ và đá xây dựng các loại. Ngoài ra còn có cuội, sỏi Laterit phân bố rải rác ở nhiều nơi như các xã La Ngâu, Đức Thuận, Măng Tố, thành phần cuội sỏi có kích thước từ 1 - 2cm; chiều dày khoảng từ 1 - 1,5m. Ngoài các loại khoáng trên, theo các tài liệu về địa chất dự đoán có than bùn ở vùng Biển Lạc - Gia An nhưng chưa được tập trung thăm dò trữ lượng để đưa vào khai thác.

Thác Bà, huyện Tánh Linh

        Về du lịch: Tánh Linh có cảnh quan thiên nhiên đa dạng, thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái vùng rừng núi và du lịch sinh thái, di tích. Các khu, điểm du lịch trên địa bàn huyện đang trong giai đoạn lập quy hoạch chi tiết. Hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch đang được đầu tư xây dựng nên hoạt động kinh doanh du lịch chưa phát triển. Công tác quy hoạch các khu du lịch, vui chơi giải trí đang thực hiện đã hoàn thành đường nhựa vào Thác Bà và tiếp tục kêu gọi đầu tư khai thác tiềm năng du lịch ở các thắng cảnh, địa danh được quy hoạch trên địa bàn huyện.

            Thanh Quang

In tin bàiLưu tin bài
CÁC TIN KHÁC


 
 
 

Android APK