Hôm nay, ngày 23 tháng 11 năm 2017
Cỡ chữ: A+ A-
UBMTTQ VIỆT NAM TỈNH | GIỚI THIỆU

VỊ TRÍ, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

13.11.2015 - 14:43

Theo Nghị quyết (số 13-NQ/TW ngày 16-8-1999) Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, thì hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội.

Theo quy định tại khoản 2 điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".


Sự quy định này xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuất phát từ thể chế chính trị: Ở Việt nam ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Đây còn là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống từ khi có Đảng Cộng sản là có Mặt trận. Sau khi giành được chính quyền, Đảng, chính quyền, Mặt trận là những bộ phận hợp thành hệ thống chính trị. Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động có khác nhau nhưng đều có công cụ để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân và cùng có chung một mục đích là phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Vị trí của Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị được quy định rõ. Với Đảng, Mặt trận Tổ quốc do Đảng lãnh đạo. Với Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Với các đoàn thể nhân dân, Mặt trận là nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên.

 * Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Mặt trận Tổ quốc có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Mặt trận thể hiện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 Vai trò của Mặt trận không phải tự Mặt trận khẳng định mà do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận. Thắng lợi huy hoàng của cách mạng tháng 8/1945 gắn liền với sự nghiệp của Mặt trận Việt Minh. Thành tích của Mặt trận Việt Minh chính là sự kế tục sự nghiệp cách mạng đã được chuẩn bị từ trước của Hội Phản đế đồng minh (1930 - 1936) và của Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936 - 1939). Tiếp theo Mặt trận Việt Minh là Mặt trận Liên Việt đã góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi. Kế tục Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời đã đoàn kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cùng với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam đoàn kết nhân dân cả nước làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang: giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Từ khi đất nước thống nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Luật MTTQ Việt Nam năm 1999 được xây dựng trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng về công tác Mặt trận trong thời kỳ đổi mới được đề ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986). Từ đó đến nay, lý luận và nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam cũng đã có những bước phát triển mới quan trọng. Văn kiện Đại hội X của Đảng (năm 2006) khẳng định: “MTTQ Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội ... Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội"; "Xây dựng Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ". Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định rõ hơn các chủ trương này: “MTTQ Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân…”.

 Như vậy, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với nền dân chủ ngày càng phát triển thì vai trò của Mặt trận và các đoàn thể ngày càng được mở rộng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng lớn của cách mạng nước ta".

  * Chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

  - Điều 2 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (năm 1999) quy định về 7 nhiệm vụ cơ bản  của MTTQ Việt Nam, đó là:

+ Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân.

+ Tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước.

+ Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước theo quy định của pháp luật.

+ Tập hợp ý kiến, kiến nghị  của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước

+ Tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân.

+ Cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

+ Tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới; góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc, vì hoà bình, hợp tác và phát triển.

  - Hiến pháp năm 2013 đã có nhiều quy định mới liên quan đến quyền và trách nhiệm cũng như chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo đó, Điều 9 so với Hiến pháp năm 1992 đã có những điểm mới rất quan trọng.

 Thứ nhất, là Hiến pháp đã hiến định chức năng giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam. Nói thế cho gọn, chứ thực ra chức năng giám sát đã được hiến định từ Hiến pháp năm 1992 rồi. Nhưng phản biện xã hội là mới hoàn toàn. Cơ chế giám sát với cơ chế phản biện khác nhau.

Thứ hai, là đã hiến định được chức năng Mặt trận đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Chức năng MTTQ Việt Nam đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân đã được Đảng khẳng định liên tục, xuyên suốt qua các văn kiện Đại hội X, XI, rõ nhất là trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), tới đây, chức năng này tiếp tục được thể chế hóa trong Luật MTTQ Việt Nam (sửa đổi).

Thứ ba, một vấn đề rất quan trọng có tính chất lịch sử là lần đầu tiên Hiến pháp đã hiến định về các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam. Mặc dù Hiến pháp 1992, ở Điều 1 cũng đã nói đến các tổ chức thành viên của Mặt trận nhưng không rõ. Hiện nay, Hiến pháp (sửa đổi) ở khoản 1 Điều 9 vẫn ghi như thế, nhưng khoản 2 thì ghi rõ 5 tổ chức chính trị xã hội (Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam) và các tổ chức thành viên khác của Mặt trận có trách nhiệm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình, đồng thời phối hợp và thống nhất hành động trong MTTQ Việt Nam. Điều này khẳng định MTTQ Việt Nam là một thể thống nhất, bao gồm UBMTTQ và các tổ chức thành viên.

Thứ tư, về điều kiện đảm bảo cũng "mở” hơn bằng việc quy định Nhà nước không những tạo điều kiện cho Mặt trận và các tổ chức thành viên hoạt động, mà còn cho cả các tổ chức xã hội khác (chưa phải là thành viên của Mặt trận) hoạt động.

* Theo đó, nhận diện chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có thể chỉ ra như sau:

+ Tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc;

+ Thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội;

+ Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân;

+ Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước;

+ Giám sát, phản biện xã hội.

Và tương ứng với những chức năng cơ bản trên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có những nhóm nhiệm vụ cơ bản như: tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giám sát và phản biện xã hội; tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; thực hiện và mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân.

Từ nhiệm vụ chung của Mặt trận tổ quốc nêu trên, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc từng cấp cần căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ và tình hình cụ thể của mỗi địa phương để đề ra nhiệm vụ cụ thể cho Mặt trận cấp mình trong mỗi kỳ Đại hội, hay chương trình phối hợp thống nhất hành động từng năm một cách  phù hợp và có tính khả thi.

 Việc xác định nhiệm vụ cụ thể của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong từng thời gian và tổ chức thiết thực, hiệu quả là vấn đề cần quan tâm vào đối  với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc ở mỗi cấp. Bác Hồ đã dạy: “hãy nhằm vào một số điều chỉnh để làm cho tốt, cho có hiệu quả còn hơn là việc gì cũng làm, mà chẳng được việc gì làm cho đến nơi” .

 Hoạt động thực tiễn của Mặt trận những năm qua chứng tỏ, ở nơi nào Mặt trận chủ động đề xuất chương trình phối hợp và thống nhất hành động hàng năm một cách cụ thể, biết tập trung thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của Mặt trận gắn với nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền, tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc trong đời sống của nhân dân địa phương thì hoạt động của Mặt trận đạt hiệu quả thiết thực, vai trò, vị trí của Mặt trận được Đảng, chính quyền, nhân dân thừa nhận.

 

Phan Thị Vi Vân
In tin bàiLưu tin bài
CÁC TIN KHÁC


 
 
 

Android APK