Hôm nay, ngày 27 tháng 7 năm 2017
Cỡ chữ: A+ A-
ĐẢNG VÀ LÃNH TỤ | BÁO CÁO CHÍNH TRỊ (KHÓA XII)

BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH (KHÓA XII) TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH THUẬN LẦN THỨ XIII NHIỆM KỲ 2015 – 2020

4.5.2015 - 14:25

              


 

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH

LẦN THỨ XII, NHIỆM KỲ 2010 – 2015

Năm năm qua, trong bối cảnh không ít khó khăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái kinh tế, những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình chính trị thế giới và trên biển Đông... Song, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã đoàn kết và không ngừng nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và các nghị quyết của Trung ương đã đề ra đạt được kết quả khá toàn diện trên các lĩnh vực.

I- NHỮNG KẾT QUẢ ĐT ĐƯỢC

1. Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, tiếp tục tăng trưởng; cơ cấu chuyển dịch theo hướng tiến bộ; tiềm năng, lợi thế được khai thác ngày càng tốt hơn

1.1- Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá

Tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP) năm 2015 theo giá so sánh ước đạt 35.079 tỷ đồng, tăng bình quân 8,96%/năm, trong đó: Công nghiệp - Xây dựng tăng 8,83%; Dịch vụ tăng 10,76%; Nông - lâm - thuỷ sản tăng 5,25%. (Theo cách tính mới được quy định tại Chỉ thị số 22, ngày 05/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ thì: Tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP) năm 2015 theo giá so sánh ước đạt 32.018 tỷ đồng, tăng bình quân 6,72%/năm, trong đó: Công nghiệp - Xây dựng tăng 7,17%, Dịch vụ và thuế sản phẩm tăng 8,65%, Nông - lâm - thuỷ sản tăng 3,34%).

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Đến năm 2015, tỷ trọng nhóm ngành Công nghiệp - Xây dựng tăng lên 36,65% (năm 2010 chiếm 34,1%); Dịch vụ tăng lên 45,92% (năm 2010 chiếm 43,7%); Nông - lâm - thuỷ sản giảm còn 17,43% (năm 2010 chiếm 22,2%). (Theo cách tính mới thì: Tỷ trọng nhóm ngành Công nghiệp - Xây dựng tăng lên 26,46%, Dịch vụ và thuế sản phẩm tăng lên 47,10%, Nông - lâm - thuỷ sản giảm còn 26,44%)([1]).

- Huy động GRDP vào ngân sách (không kể các khoản thu từ dầu khí và thuế xuất nhập khẩu) bình quân đạt 9,47%/năm; chi đầu tư phát triển 5 năm 2011 - 2015 là 11.686 tỷ đồng, chiếm 35,03% tổng chi ngân sách địa phương.

1.2- Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại từng ngành, từng lĩnh vực đạt kết quả tích cực

1.2.1- Sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp tiếp tục tăng trưởng

 Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 10,2%/năm. Các sản phẩm chủ lực, lợi thế như: nước mắm, nước khoáng Vĩnh Hảo, hải sản chế biến phát triển ổn định; một số sản phẩm mới như: đồ gỗ nội thất, giấy tự dính, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, tảo chế biến, mủ trôm, nước ép trái thanh long... từng bước tiếp cận và có chỗ đứng trên thị trường. Đã thu hút một số doanh nghiệp đăng ký và kinh doanh hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, đầu tư khai thác, chế biến sa khoáng titan; các dự án nhiệt điện và phong điện được triển khai xây dựng, từng bước đưa vào vận hành; lưới truyền tải và phân phối điện được đầu tư, mở rộng… Các doanh nghiệp đã quan tâm chủ động đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp. 

1.2.2- Du lịch, thương mại, dịch vụ, kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển

- Hoạt động du lịch phát triển khá; số lượng du khách, doanh thu du lịch tăng qua từng năm (lượng du khách tăng 10,29%/năm; doanh thu du lịch tăng 24,65%/năm); tiềm năng du lịch biển được khai thác ngày càng tốt hơn; thời gian lưu trú, mức độ tiêu dùng, tỷ lệ quay trở lại của du khách ngày càng cao hơn. Công tác xúc tiến du lịch được thường xuyên quan tâm, đã tổ chức được một số sự kiện văn hóa, thể thao góp phần tuyên truyền, quảng bá, thu hút du khách. Đầu tư phát triển du lịch đạt khá([2]); cơ sở nghỉ dưỡng, số lượng, chất lượng các dịch vụ ngày càng nâng lên. Vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, an ninh trật tự tại các khu du lịch trọng điểm nhìn chung được bảo đảm.

- Thương mại, dịch vụ duy trì ổn định

Lưu thông hàng hoá giữa các vùng, miền, các địa bàn thông suốt, thuận lợi. Thị trường trong nước được chú ý khai thác nhiều hơn. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng bình quân 16,6%/năm. Công tác xúc tiến thương mại được quan tâm; thực hiện tốt Chương trình đưa hàng Việt về nông thôn. Công tác quản lý thị trường được tăng cường.

Hệ thống tổ chức tín dụng từng bước được cơ cấu lại. Các giải pháp huy động vốn và mở rộng cho vay được đẩy mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vốn phát triển sản xuất kinh doanh của các tổ chức và cá nhân; khu vực nông nghiệp, nông thôn được chú trọng. Năng lực tài chính, năng lực quản lý điều hành từng bước được nâng lên, hoạt động ổn định, an toàn, hiệu quả; tín dụng đạt mức tăng trưởng khá, nợ xấu được xử lý tích cực([3]).

Mạng lưới vận tải tiếp tục được mở rộng, chất lượng hoạt động ngày càng tăng. Mạng lưới dịch vụ bưu chính, viễn thông, hạ tầng công nghệ thông tin ngày càng phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội, góp phần hỗ trợ tích cực hoạt động sản xuất, kinh doanh, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và thực hiện cải cách thủ tục hành chính([4]).

- Kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế được quan tâm chú ý phát triển

Hoạt động xuất nhập khẩu có tiến bộ, số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu tăng nhanh, thị trường xuất khẩu từng bước mở rộng, ngoài thị trường Trung Quốc các doanh nghiệp đã chú ý khai thác, mở rộng thêm các thị trường ở Bắc Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga([5]); kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 14,48%/năm; công tác hỗ trợ, xúc tiến mở rộng thị trường được chú ý, tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng lợi thế của địa phương như: thuỷ sản, thanh long, cao su, nhân hạt điều, mộc gia dụng... Kêu gọi đầu tư nước ngoài có tiến bộ, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tương đối ổn định và đạt kết quả khá([6]), nguồn vốn viện trợ ngày càng nhiều và sử dụng có hiệu quả hơn([7]). Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã tăng cường quan hệ với các Đại sứ quán, Tổng lãnh sự quán nước ngoài để trao đổi, giao lưu, tìm kiếm thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp và xử lý các tình huống xảy ra đối với các doanh nghiệp, đối tác nước ngoài([8])

1.2.3- Kinh tế nông nghiệp tiếp tục phát triển

Nét nổi bật là các công trình thủy lợi được quan tâm đầu tư, nâng cấp, phát triển gắn với quản lý, điều tiết và khai thác tốt; nhờ đó, diện tích tưới chủ động tiếp tục được mở rộng, tạo điều kiện thâm canh, tăng vụ, nâng hệ số sử dụng đất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tích cực. Các loại cây trồng có lợi thế như thanh long, cao su được tập trung chỉ đạo và tiếp tục phát triển, hình thành các vùng chuyên canh; đặc biệt cây thanh long phát triển nhanh([9]). Quản lý tốt 50.091 ha đất lúa([10]) và sử dụng linh hoạt hơn trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, hình thành mô hình cánh đồng mẫu lớn, cánh đồng năng suất chất lượng cao; các mô hình kinh tế trang trại([11]), mô hình liên kết và hợp tác trong sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả bước đầu. Việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, năng suất, sản lượng một số cây trồng có lợi thế tiếp tục tăng nhanh([12]); trên 95% khâu làm đất, thu hoạch, vận chuyển và 100% khâu tuốt lúa đã được cơ giới hóa. Chăn nuôi từng bước phát triển theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp; hoạt động thú y, kiểm soát giết, mổ gia súc, gia cầm có tiến bộ; một số cơ sở và nhà máy chế biến thức ăn gia súc có quy mô khá lớn được đầu tư, đáp ứng một phần nhu cầu chăn nuôi.

Hoạt động lâm nghiệp chuyển mạnh theo hướng xã hội hóa. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nhất là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ở đầu nguồn được tăng cường; giao khoán quản lý và bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số được duy trì tốt; số vụ vi phạm lâm luật giảm dần. Đã trồng mới 17.768 ha rừng, nâng độ che phủ của rừng từ 38,4% (năm 2010) lên 43,2% (năm 2015). Từng bước tổ chức quản lý, sắp xếp mạng lưới kinh doanh gỗ, lâm sản hợp lý hơn([13]).

Giá trị gia tăng của ngành kinh tế thủy sản tăng bình quân 7,2%/năm, cơ cấu thuyền nghề chuyển mạnh theo hướng tăng tàu thuyền có công suất lớn, đánh bắt xa bờ gắn với dịch vụ hậu cần trên biển([14]). Sản lượng hải sản khai thác tăng qua từng năm, nuôi trồng thủy sản cả nước mặn, ngọt và nước lợ phát triển ổn định, chất lượng tôm giống được giữ vững, khẳng định được lợi thế([15]). Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản được tăng cường. Các Nghiệp đoàn nghề cá và Tổ Đoàn kết khai thác thủy sản được thành lập ngày càng nhiều hơn, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc([16]).

1.2.4- Các thành phần kinh tế tiếp tục được củng cố, phát triển khá

Môi trường đầu tư của tỉnh ngày càng được cải thiện; các chính sách hỗ trợ lãi suất, chính sách giảm, giãn thuế được thực hiện tốt hơn; một số khó khăn, vướng mắc được chú ý tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất – kinh doanh.

Các doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý đã được sắp xếp lại và đang trong quá trình đẩy mạnh cơ cấu lại; hoạt động ổn định, có hiệu quả, góp phần tích cực phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương, nộp ngân sách khá([17]). Kinh tế tập thể, nòng cốt là Hợp tác xã (HTX) tiếp tục được củng cố, phát triển và từng bước nâng dần hiệu quả hoạt động([18]). Kinh tế tư nhân phát triển khá nhanh([19]). Số lượng doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước chiếm 97,6%, nộp ngân sách chiếm hơn 70%, giải quyết việc làm cho lao động chiếm 90,3% so với tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh.

1.2.5- Thu ngân sách tăng khá

Công tác thu ngân sách nhà nước được tập trung chỉ đạo; triển khai đồng bộ và quyết liệt các biện pháp quản lý, khai thác nguồn thu và chống thất thu ngân sách đi đôi thực hiện tốt các chính sách miễn, giảm, gia hạn nộp thuế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong công tác thu thuế… Tổng thu nội địa 5 năm (2011-2015) là 18.115 tỷ đồng, đạt 87% so kế hoạch, tăng 84,6% so với giai đoạn 2006-2010([20]).

Điều hành chi ngân sách, đặc biệt chi đầu tư phát triển có nhiều cố gắng, đảm bảo kịp thời chi trả lương, chi thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phòng, chống, khắc phục thiên tai, dịch bệnh, quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ trọng tâm. Thực hiện nghiêm túc các giải pháp góp phần kiềm chế lạm phát; kiên quyết tạm dừng, cắt giảm, giãn tiến độ các công trình chưa thật bức xúc, cần thiết([21]).

2. Hoạt động giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế có tiến bộ; các chính sách an sinh xã hội được thực hiện khá tốt; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện

2.1- Sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển ổn định, nhiều mặt chuyển biến tiến bộ

Quy mô các cấp học, bậc học tiếp tục được mở rộng; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập được đầu tư nhiều hơn. Chất lượng giáo dục toàn diện tiếp tục được giữ vững; tỷ lệ học sinh bỏ học giảm dần (còn 1,62%), tỷ lệ học sinh giỏi, học sinh tham gia đạt các giải học sinh giỏi cấp khu vực, cấp quốc gia và đậu các trường đại học ngày càng nhiều hơn. Tiếp tục duy trì và giữ vững chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục (PCGD) tiểu học đúng độ tuổi và PCGD trung học cơ sở; thực hiện PCGD mầm non cho trẻ em 5 tuổi đạt kết quả tiến bộ([22]). Thực hiện có hiệu quả chính sách hỗ trợ chi phí học tập, sinh hoạt cho học sinh dân tộc thiểu số, hộ nghèo và tín dụng ưu đãi cho học sinh, sinh viên nghèo.

2.2- Hoạt động khoa học - công nghệ bám sát hơn yêu cầu thực tiễn; việc ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, hỗ trợ đổi mới thiết bị - công nghệ ngày càng được đẩy mạnh

Các đề tài, dự án về khoa học - công nghệ được tổ chức nghiên cứu, triển khai, ứng dụng nhiều hơn. Đã rà soát, bổ sung chính sách hỗ trợ, đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm lợi thế phục vụ xuất khẩu và từng bước thực hiện các quy trình về quản lý an toàn bức xạ trong hoạt động khai thác, chế biến sa khoáng titan. Thực hiện đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý; đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp đối với một số sản phẩm lợi thế của tỉnh([23]). Triển khai xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO vào hoạt động của cơ quan nhà nước. Khoa học xã hội và nhân văn tiếp tục có nhiều cố gắng trong điều tra, nghiên cứu, cung cấp tư liệu, luận cứ khoa học phục vụ việc tôn tạo, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc và đề xuất định hướng dư luận xã hội, hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương ([24]).

2.3- Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân được tăng cường

Cơ sở vật chất và trang thiết bị các cơ sở y tế từ tỉnh đến xã, phường tiếp tục được đầu tư nâng cấp theo hướng hiện đại; mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn([25]). Đội ngũ thầy thuốc có bước trưởng thành cả về chất và lượng, đã chủ động tiếp cận và làm chủ được một số dịch vụ y tế kỹ thuật cao, có tính phức tạp trong cấp cứu, điều trị. Chất lượng khám và điều trị ngày càng được nâng lên. Các chương trình y tế Quốc gia được triển khai tích cực; công tác y tế dự phòng được quan tâm chỉ đạo, các loại dịch bệnh nhìn chung được phát hiện và khống chế kịp thời. Công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được đẩy mạnh thường xuyên. Y tế biển đảo, y tế ngoài công lập và các đề án xã hội hóa hoạt động y tế được triển khai tích cực, góp phần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe; mức hưởng thụ các dịch vụ y tế của nhân dân từng bước được nâng lên.

2.4- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng dần chất lượng nguồn nhân lực

Lao động đang làm việc tại các ngành, lĩnh vực được đào tạo và đào tạo lại tăng dần qua các năm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 28% (năm 2010) lên 55% (năm 2015), góp phần nâng chất lượng nguồn nhân lực. Việc gắn kết giữa đào tạo và giải quyết việc làm có chuyển biến tích cực; các hoạt động dịch vụ việc làm, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp, các chương trình, dự án được đẩy mạnh. Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm dần lao động nông nghiệp và tăng nhanh lao động khu vực dịch vụ, công, thương nghiệp([26]). Các cơ sở dạy nghề đã quan tâm nhiều hơn trong đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, linh hoạt trong phương thức và coi trọng hiệu quả đào tạo, ngày càng gắn chặt hơn với nhu cầu thực tiễn của xã hội.

2.5- Sự nghiệp văn hóa-nghệ thuật, thể dục-thể thao có bước phát triển

Hoạt động văn hóa-văn nghệ, thể dục-thể thao tiếp tục hướng mạnh về cơ sở, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ của nhân dân. Các giá trị văn hóa, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh của tỉnh tiếp tục được tu bổ, bảo tồn và phát huy; các lễ hội tiêu biểu, truyền thống của địa phương được duy trì và nâng dần chất lượng. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi dần vào thực chất, gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân([27]). Hoạt động thể thao tiếp tục đạt kết quả khá, giành nhiều thành tích cao([28]). Đã tổ chức tốt một số sự kiện thể thao quốc tế, qua đó góp phần quảng bá tiềm năng du lịch của tỉnh([29]). Phong trào thể dục – thể thao quần chúng tiếp tục duy trì phát triển, thu hút nhiều đối tượng tham gia.

2.6 - Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện khá tốt, tích cực chăm lo người có công với cách mạng; công tác xóa đói, giảm nghèo được đẩy mạnh, đời sống đại bộ phận nhân dân được cải thiện

Các chính sách an sinh xã hội được triển khai nghiêm túc, kịp thời; công tác chăm sóc người cao tuổi, trợ giúp người khuyết tật, người tâm thần và công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâm nhiều hơn. Phong trào “đền ơn, đáp nghĩa” được duy trì thường xuyên. Chương trình giảm nghèo được tiếp tục đẩy mạnh bằng nhiều giải pháp thiết thực, cụ thể; chính sách bảo trợ xã hội, bảo hiểm y tế cho người nghèo được thực hiện khá tốt. Đã cơ bản hoàn thành mục tiêu hỗ trợ, xây dựng và sửa chữa nhà ở cho gia đình có công với cách mạng, xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo và cận nghèo trong toàn tỉnh([30]). Đời sống của đại bộ phận nhân dân nhìn chung được cải thiện, một bộ phận vươn lên làm giàu; gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng và đồng bào dân tộc thiểu số được chăm lo ngày càng tốt hơn([31]). GRDP bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 40,07 triệu đồng (tương đương 1.864 USD) bằng 1,92 lần so với năm 2010. (Theo cách tính mới GRDP đầu người năm 2015 đạt khoảng 37,58 triệu đồng (tương đương 1.748 USD) bằng 1,73 lần so với năm 2010).

3. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường có nhiều cố gắng, chủ động triển khai các biện pháp nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai

Công tác quản lý nhà nước về đất đai có tiến bộ, khắc phục được những yếu kém, khuyết điểm so với trước. Công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được đẩy mạnh triển khai đồng bộ ([32]). Công tác tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường được quan tâm chỉ đạo; phần lớn các khu trung tâm, đô thị đều có hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung; số lượng công viên, cây xanh và tỷ lệ rác thải được thu gom ngày càng tăng. Công tác thanh tra, kiểm tra về đất đai, khoáng sản, môi trường được tăng cường; các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm, bảo vệ môi trường được coi trọng; kiên quyết xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng([33]).

Công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai được chú trọng nhiều hơn. Đã rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, dự án xây dựng các khu dân cư có nguy cơ xâm thực để sắp xếp, bố trí lại nhằm giảm thiểu thiệt hại, bảo đảm an toàn khi thiên tai xảy ra; triển khai xây dựng hệ thống đê kè chống xâm thực tại huyện Tuy Phong, huyện Phú Quý, thị xã La Gi và thành phố Phan Thiết.

4. Các nguồn lực cho đầu tư phát triển được huy động nhiều hơn, hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu được đẩy mạnh đầu tư, từng bước đồng bộ

           Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm (2011-2015) gần 77.988 tỷ đồng, chiếm 39,72% GRDP (chỉ tiêu đề ra là 50%), tăng bình quân 4,7%/năm; trong đó vốn đầu tư từ khu vực nhà nước 14.800 tỷ đồng, chiếm 18,98%, vốn đầu tư từ khu vực tư nhân 63.188 tỷ đồng, chiếm 81,02%. Các nguồn lực được sử dụng ngày càng hiệu quả hơn.

Chủ trương cơ cấu lại đầu tư công được thực hiện nghiêm túc. Việc phân bổ vốn được tập trung vào các công trình trọng điểm, bức xúc góp phần khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương; các công trình sắp hoàn thành, công trình chuyển tiếp để đẩy nhanh tiến độ thi công, sớm đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả([34]); thực hiện rà soát, cắt giảm, giãn tiến độ đầu tư các dự án chưa thật sự bức xúc. Việc thông qua chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư dự án công được xem xét ngày càng chặt chẽ hơn; khắc phục dần tình trạng bố trí vốn đầu tư dàn trải, nợ đọng xây dựng cơ bản.

Bằng nhiều nguồn lực của cả nhà nước, doanh nghiệp và vốn huy động trong dân, hệ thống kết cấu hạ tầng từng bước được đầu tư, nâng cấp. Đã tiếp tục thi công, khởi công mới các công trình thủy lợi([35]); hoàn thành đưa vào sử dụng các khu tránh trú bão cho tàu cá([36]); đang thi công nâng cấp Cảng cá Phan Thiết. Nâng cấp, cải tạo, sửa chữa một số cầu, đường quan trọng([37]); phối hợp với Bộ Giao thông vận tải thi công hoàn thành dự án mở rộng, nâng cấp Quốc lộ 1A và dự án Quốc lộ 55 đoạn qua địa bàn tỉnh; phong trào huy động sức dân làm giao thông nông thôn và mắc điện chiếu sáng gắn với phong trào “Chung sức, chung lòng xây dựng nông thôn mới” được tập trung chỉ đạo thực hiện đạt kết quả khả quan([38]). Khởi công sân bay Phan Thiết, Cảng tổng hợp Vĩnh Tân. Tiếp tục đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp([39]); đang xúc tiến các bước chuẩn bị đầu tư KCN Sơn Mỹ I, Sơn Mỹ II, các cụm chế biến sâu sa khoáng titan. Các tuyến đường dây cao thế, hạ thế, các trạm biến áp và một số dự án thủy điện, nhiệt điện được đầu tư hoàn thành, đưa vào hoạt động([40]). Kết cấu hạ tầng thương mại được tiếp tục đầu tư xây dựng; hoàn thành đầu tư nâng cấp, xây dựng hệ thống chợ, cửa hàng xăng dầu, cửa hàng kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng, kho trung chuyển xăng dầu...([41]). Đã đầu tư hệ thống thoát nước trên địa bàn thành phố Phan Thiết([42]). Hệ thống trường lớp, bệnh viện, trạm y tế được tiếp tục đẩy mạnh đầu tư theo hướng chuẩn hóa, trang thiết bị được đầu tư theo hướng hiện đại; các thiết chế văn hóa được quan tâm đầu tư, xây dựng, nâng cấp góp phần phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe và đời sống tinh thần của nhân dân([43])

5. Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch có tiến bộ. Kinh tế - xã hội các vùng có chuyển biến tích cực

Đến nay các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện, thị xã, thành phố và các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu của tỉnh đều được rà soát, xây dựng, phê duyệt, làm cơ sở xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và ban hành các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư.

Trên cơ sở quy hoạch, công tác quản lý, tổ chức thực hiện quy hoạch được quan tâm, kinh tế vùng đã có bước chuyển biến tích cực: Kinh tế đô thị tiếp tục phát triển, tạo thế phát triển cân bằng giữa các vùng trong tỉnh. Hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, các trục đường chính cơ bản được nhựa hóa, hệ thống cung cấp điện, nước và thoát nước được đầu tư nâng cấp. Mạng lưới bưu chính, viễn thông được mở rộng, chất lượng ngày càng được cải thiện. Bộ mặt các đô thị tiếp tục khởi sắc.

Kinh tế - xã hội vùng ven biển, hải đảo tiếp tục phát triển ổn định; kết cấu hạ tầng vùng ven biển, đảo được tiếp tục đầu tư. Kinh tế biển được phát huy ngày càng tốt hơn, cả về du lịch và thủy sản; đời sống của nhân dân nhìn chung ổn định. Riêng đảo Phú Quý đã đầu tư nhà máy điện gió, đang tiếp tục triển khai đầu tư kè chống xâm thực, hệ thống giao thông... Các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội, gắn với đảm bảo quốc phòng - an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc được thực hiện tốt.

Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn được quan tâm đầu tư([44]). Triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự án xây dựng các mô hình sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; các hoạt động văn hóa - xã hội tiếp tục có chuyển biến tiến bộ; đời sống nông dân được cải thiện; một bộ phận giàu lên nhờ trồng thanh long. Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai tích cực, đạt kết quả bước đầu; năm 2014, bình quân đạt 12,28 tiêu chí/xã (riêng 21 xã điểm, bình quân đạt 16,1 tiêu chí/xã, có 8 xã đạt tiêu chí về nông thôn mới), phấn đấu cuối năm 2015 có 25 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 26,04%  tổng số xã của tỉnh, tăng 4 xã so với mục tiêu nghị quyết Đại hội đề ra. Bộ mặt nông thôn có sự thay đổi rõ rệt.

Kinh tế - xã hội miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục có chuyển biến khá toàn diện; sản xuất đạt kết quả tốt. Hạ tầng điện, đường, trường, trạm, các thiết chế văn hóa được đầu tư khá căn bản; công tác giáo dục, các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao tiếp tục được đẩy mạnh. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được cải thiện; bộ mặt vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhìn chung đã có nhiều khởi sắc. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững. Lòng tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước tiếp tục được củng cố([45]).

6. Quốc phòng được thường xuyên củng cố, tăng cường; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội căn bản được giữ vững

Công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng – an ninh nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức bảo vệ Tổ quốc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân được tiến hành thường xuyên. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân trong khu vực phòng thủ ngày càng được củng cố vững chắc hơn. Kinh tế và quốc phòng - an ninh được chú trọng gắn kết chặt chẽ trong các chủ trương và đề án phát triển. Các biện pháp nhằm góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc được triển khai tích cực. Các phương án tác chiến, phòng thủ, các kế hoạch bảo vệ an ninh trật tự được tổ chức diễn tập và triển khai đạt kết quả tốt. Công tác bảo vệ an ninh nội bộ được tăng cường. Đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động của các thế lực thù địch, phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội được thường xuyên đẩy mạnh. Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” được duy trì và ngày càng đi vào chiều sâu với những mô hình cụ thể, thiết thực. Nắm bắt tình hình có nhiều tiến bộ; quản lý tình hình các mặt có liên quan đến an ninh trật tự có chặt chẽ hơn. Sự phối hợp giữa các lực lượng ngày càng chặt chẽ, đồng bộ. Đã phát hiện và xử lý kịp thời, có hiệu quả các vụ việc phức tạp, nổi cộm, không để xảy ra điểm nóng; ngăn ngừa được sự gia tăng tội phạm; tai nạn giao thông được kiềm chế; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cả trên biển và đất liền căn bản được giữ vững.

Lực lượng vũ trang nhân dân được thường xuyên chăm lo xây dựng, chất lượng chính trị, trình độ sẵn sàng chiến đấu, năng lực chuyên môn nghiệp vụ từng bước được nâng lên; xuất hiện ngày càng nhiều những tấm gương tiêu biểu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, nêu cao trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ. Lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên được tổ chức, quản lý chặt chẽ hơn, thường xuyên được củng cố, kiện toàn, duy trì tốt chế độ huấn luyện. Công tác gọi công dân nhập ngũ hàng năm đều đạt yêu cầu cả về số lượng và chất lượng.

7. Bộ máy nhà nước các cấp trong tỉnh tiếp tục được xây dựng, củng cố; hiệu lực và hiệu quả hoạt động được nâng lên

- Hoạt động của Hội đồng nhân dân và vai trò giám sát của Thường trực và các ban của Hội đồng nhân dân các cấp từng bước được cải tiến và nâng dần chất lượng, nhất là hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn, tiếp xúc cử tri và tiếp công dân. Hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục đổi mới và hoàn thiện. Tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn của hệ thống chính quyền từ tỉnh đến cơ sở được củng cố và xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ.

- Công tác quản lý nhà nước ngày càng được tăng cường, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân các cấp từng bước được nâng lên. Đã xây dựng và thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa các cơ quan chính quyền với Mặt trận và tổ chức đoàn thể các cấp. Thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” đạt kết quả tốt đi đôi với đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo và xử lý công việc, cải thiện môi trường đầu tư được nhân dân và các doanh nghiệp đồng tình. Việc phân cấp quản lý được đẩy mạnh; trách nhiệm của các ngành, các cấp được phát huy tốt hơn. Phong cách, phương pháp làm việc, kỷ luật, kỷ cương công vụ được thường xuyên kiểm tra, chấn chỉnh, nhờ đó chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực([46]).

Các cơ quan thực thi pháp luật ngày càng được củng cố về các mặt. Các giải pháp cải cách tư pháp tiếp tục được triển khai đồng bộ; đội ngũ cán bộ tư pháp được thường xuyên bổ sung và kiện toàn; công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và lý luận chính trị được quan tâm; chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được nâng lên. Việc tăng thẩm quyền cho tòa án cấp huyện, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, đề cao vai trò của luật sư trong tố tụng bước đầu có kết quả, hạn chế được tình trạng truy tố, xét xử oan, sai, bỏ lọt tội phạm.

- Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí được thường xuyên đẩy mạnh. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được chú trọng nhiều hơn. Các giải pháp “phòng”“chống” tham nhũng được triển khai khá đồng bộ; những sơ hở trong quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản được tích cực khắc phục; sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong điều tra, xử lý các vụ án tiêu cực, tham nhũng ngày càng chặt chẽ; những vụ án phức tạp, tồn đọng kéo dài, những vụ án được dư luận quan tâm được tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm và xử lý nghiêm minh([47]). Nhờ vậy, trên một số lĩnh vực công tác phòng, chống tham nhũng có chuyển biến bước đầu([48]).

Công tác giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân được tập trung đúng mức hơn, hầu hết các vụ việc khiếu nại kéo dài được giải quyết dứt điểm, giảm rõ tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp.

8. Công tác dân vận từng bước đổi mới; sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân được phát huy; chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân được nâng lên

Công tác dân vận tiếp tục đổi mới theo hướng sát địa bàn, sát với nhân dân; khắc phục dần tính hình thức, hành chính; chất lượng, hiệu quả từng bước được nâng lên.

Hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức đoàn thể các cấp đã có nhiều cố gắng trong việc tham mưu triển khai và làm nòng cốt trong quá trình thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở; tích cực tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; nắm bắt và đề xuất với các cấp ủy Đảng, phối hợp với chính quyền giải quyết kịp thời nhiều nguyện vọng chính đáng, nhiều vấn đề bức xúc trong cuộc sống của nhân dân, góp phần tạo đồng thuận chung trong xã hội. Công tác xây dựng, phát triển thực lực và phát huy vai trò cốt cán chính trị được quan tâm.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội cũng đã phối hợp với chính quyền các cấp huy động được nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển, xây dựng khu phố (thôn), chăm lo đời sống nhân dân, đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo, từ thiện... Phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với công tác dân vận trong hệ thống chính quyền đạt được kết quả tích cực, nổi bật; nhất là đã vận động nhân dân đồng tình, ủng hộ việc giải phóng mặt bằng phục vụ dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 1A; phong trào “Chung sức, chung lòng xây dựng nông thôn mới”, làm giao thông nông thôn, thủy lợi nhỏ, đầu tư điện chiếu sáng nông thôn, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”... Thông qua việc triển khai thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, tinh thần, trách nhiệm đối với cộng đồng, xã hội của cán bộ, đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân được phát huy tốt hơn; xuất hiện ngày càng nhiều hơn những mô hình, những tấm gương điển hình tiên tiến. Các chính sách của Đảng và nhà nước về tôn giáo, về dân tộc, về kiều bào ở nước ngoài cũng như chính sách đối với công nhân, nông dân, trí thức, các thành phần kinh tế... được tổ chức thực hiện có kết quả; nhờ vậy, khối đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được tăng cường; niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ngày càng nâng lên.

9. Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, đạt được nhiều kết quả tích cực

Công tác chính trị, tư tưởng được quan tâm thường xuyên hơn. Đặc biệt từ sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI), việc phổ biến, học tập, triển khai các Kết luận, Nghị quyết của Trung ương được đổi mới theo hướng thiết thực. Việc cung cấp thông tin cho các đối tượng cán bộ, đảng viên được mở rộng, tổ chức thường xuyên, nền nếp. Các lĩnh vực nhạy cảm và phức tạp, những vấn đề mà nội bộ và nhân dân quan tâm hoặc báo chí phản ánh được chỉ đạo xử lý và kịp thời định hướng thông tin, dư luận; thông qua đó góp phần ổn định tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo được sự nhất trí nội bộ và sự đồng thuận trong xã hội ngày càng cao.

Công tác giáo dục lý luận chính trị, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được tích cực đổi mới cả về nội dung và phương pháp, mang lại hiệu quả bước đầu. Các chuyên đề, đề án về công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tiếp tục được tập trung chỉ đạo với nhiều nội dung, hình thức phù hợp gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI); cấp ủy, chính quyền các cấp đã coi trọng hơn nhiệm vụ xây dựng đạo đức trong cán bộ, đảng viên; ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm trong công việc, tinh thần nỗ lực, vượt khó vươn lên trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có chuyển biến tiến bộ.

Công tác tổ chức, cán bộ được triển khai thực hiện tương đối đồng bộ với những giải pháp thiết thực so với thực tế và ngày càng đi vào chiều sâu. Các chủ trương, quan điểm, giải pháp về công tác cán bộ được cụ thể hóa nghiêm túc và kịp thời. Tổ chức bộ máy được chú ý kiện toàn. Ban hành nhiều quy chế phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị nhằm đảm bảo hoạt động đồng bộ, thống nhất, có hiệu quả. Công tác quy hoạch, đào tạo, luân chuyển và phân cấp quản lý cán bộ có những chuyển biến tích cực. Đội ngũ cán bộ được chú trọng nâng cao chất lượng. Công tác cán bộ nữ có chuyển biến so với trước; cán bộ xã, phường, thị trấn, cán bộ dân tộc thiểu số và huyện Phú Quý được đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, có bước trưởng thành về các mặt. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện trở lên cơ bản được chuẩn hoá. Đề án đào tạo 100 thạc sỹ, tiến sỹ ở nước ngoài được tiếp tục triển khai gắn với Chương trình 165 của Trung ương, phần lớn các đồng chí qua đào tạo đã phát huy tốt vai trò, năng lực trong công tác.

Việc củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được chú trọng; đã chú trọng nhiều hơn trong xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng ở những vùng, lĩnh vực trọng yếu, có nhiều khó khăn. Các loại hình tổ chức cơ sở Đảng tiếp tục được sắp xếp, củng cố, xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ phù hợp với yêu cầu thực tiễn; phần lớn phát huy tốt vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở. Việc đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở đảng và cán bộ, đảng viên ngày càng đi vào thực chất; những vướng mắc trong hoạt động của chi bộ từng bước được tháo gỡ căn bản, chất lượng sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi được nâng lên. Công tác phát triển, quản lý nâng cao chất lượng đảng viên được quan tâm chỉ đạo([49]).

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được tiến hành thường xuyên và chủ động. Công tác kiểm tra, giám sát, phúc tra được tăng cường, nội dung, phương pháp được đổi mới; chất lượng, hiệu quả được nâng lên. Đã chú trọng kiểm tra, giám sát trách nhiệm của tổ chức Đảng và người đứng đầu trong việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các chương trình, dự án và những lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp dễ phát sinh tiêu cực như: quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản, mua sắm tài sản công, đầu tư xây dựng cơ bản, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí và công tác cán bộ...; những vụ việc nổi cộm, tồn đọng được thường xuyên rà soát, giải quyết dứt điểm; xử lý nghiêm những tổ chức đảng và đảng viên có sai phạm, góp phần giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ từng bước được đổi mới theo hướng vừa bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng vừa phát huy tốt hơn vai trò trách nhiệm và tính chủ động, sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Các cuộc hội nghị được cải tiến và nâng dần chất lượng. Việc phát huy dân chủ trong Đảng được thường xuyên chú trọng. Phong cách, lề lối làm việc tiếp tục được cải tiến theo hướng đề cao trách nhiệm người đứng đầu các cấp, tăng cường đôn đốc, kiểm tra, sâu sát cơ sở, gần gũi nhân dân; xử lý kịp thời những tình huống xảy ra.

10. Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” được tập trung chỉ đạo khá nghiêm túc, tạo chuyển biến bước đầu

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã được triển khai khẩn trương và nghiêm túc gắn chặt với tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trên cơ sở nắm vững yêu cầu, phương châm chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và hướng dẫn của các cơ quan chức năng.

Việc tổ chức quán triệt trong toàn Đảng bộ được tiến hành kịp thời; nội dung các kế hoạch triển khai được xây dựng cụ thể, rõ ràng về nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan chức năng; bám sát các yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và đặc điểm, tình hình cụ thể của Đảng bộ tỉnh. Vận dụng hướng dẫn của cấp trên, đề ra cách làm phù hợp nhằm mở rộng và phát huy dân chủ nội bộ và nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng được dư luận nội bộ và xã hội đồng tình, ủng hộ. Việc chuẩn bị và tổ chức kiểm điểm được tiến hành chu đáo, chặt chẽ với tinh thần cầu thị, nghiêm túc tự phê bình và phê bình trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Sau kiểm điểm có đề ra các kế hoạch, giải pháp cả trước mắt và lâu dài để khắc phục những yếu kém, khuyết điểm tồn tại và tập trung triển khai thực hiện có kết quả; tổ chức thông báo công khai kết quả kiểm điểm, trực tiếp tiếp thu, trả lời những vấn đề do tổ chức và cá nhân góp ý đối với tập thể và cá nhân các đồng chí ủy viên ban thường vụ cấp ủy. Ban Thường vụ cấp ủy các cấp cũng đã tự kiểm tra, đồng thời thường xuyên tiến hành kiểm tra các cấp ủy trực thuộc và người đứng đầu để đôn đốc, nhắc nhở, rà soát những việc, những giải pháp cần tiếp tục triển khai nhằm khắc phục triệt để, có hiệu quả những khuyết điểm đã mắc phải. Những trường hợp vi phạm kỷ luật, một số vụ việc phức tạp được chỉ đạo tập trung xử lý kịp thời và nghiêm túc. Nhiều yếu kém, khuyết điểm trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, trong công tác cán bộ, trong việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đã được các cấp ủy khắc phục có hiệu quả. Đặc biệt, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành một số chỉ thị cụ thể, chuyên đề để chỉ đạo khắc phục một số khuyết điểm, trì trệ kéo dài trong cán bộ, đảng viên([50]), đã nhận được sự đồng thuận, hưởng ứng tích cực, tạo chuyển biến rõ nét trong cán bộ, đảng viên về ý thức rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức và lối sống, phong cách và tinh thần trách nhiệm, ý thức chấp hành trong công tác, thái độ phục vụ nhân dân. Những việc làm trên thể hiện quyết tâm của cấp ủy các cấp, nhất là của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, có ảnh hưởng lan tỏa đến các cấp ủy, cán bộ, đảng viên, thúc đẩy ý thức trách nhiệm đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay trong toàn Đảng bộ.

II- NHỮNG YẾU KÉM, KHUYẾT ĐIỂM

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình các mặt của tỉnh đang tồn tại một số yếu kém, khuyết điểm đáng chú ý sau đây:

1. Kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; hiệu quả còn thấp, sức cạnh tranh còn yếu

Kinh tế có tăng trưởng nhưng chưa mạnh, có mặt chưa vững chắc. Chậm cơ cấu lại nền kinh tế; năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Tốc độ tăng trưởng (GRDP) và chuyển dịch cơ cấu kinh tế không đạt mục tiêu Đại hội đề ra.

Sản xuất công nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, nhất là hạ tầng kỹ thuật chưa có được sự đột phá; quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, sản phẩm mới còn ít, sức cạnh tranh yếu. Tiềm năng du lịch chưa được khai thác có hiệu quả, sản phẩm, dịch vụ du lịch chưa đa dạng, chất lượng chưa cao. Vệ sinh môi trường có nơi, có lúc chưa bảo đảm; công tác quảng bá, xúc tiến du lịch còn hạn chế, một số vướng mắc trong chồng lấn giữa quy hoạch phát triển du lịch với các ngành khác chậm được tập trung giải quyết triệt để. Sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ là chủ yếu, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, bảo quản nông sản chưa nhiều; chưa gắn với công nghiệp chế biến, thiếu những mô hình, những vùng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, thị trường tiêu thụ chưa vững chắc; cải tạo, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con nuôi một số nơi lúng túng. Tình trạng khai thác rừng trái phép, nhất là rừng ở các khu vực giáp ranh còn diễn biến phức tạp. Công tác thông tin, dự báo ngư trường phục vụ khai thác xa bờ còn hạn chế; năng suất khai thác hải sản thấp, chủ yếu vẫn theo công nghệ truyền thống; mô hình gắn kết giữa khai thác – chế biến – dịch vụ hậu cần trên biển phát triển còn chậm; công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản còn bất cập.

Thị trường trong nước chưa được chú trọng khai thác có hiệu quả, thị trường xuất khẩu hàng hóa thiếu ổn định, chưa vững chắc, xuất khẩu tiểu ngạch và xuất qua thị trường Trung Quốc còn chiếm tỷ trọng lớn, giá cả bấp bênh, nhất là thanh long; sản phẩm xuất khẩu qua chế biến chưa nhiều. Công tác đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế còn nhiều hạn chế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tranh thủ nguồn vốn viện trợ ít; việc chuẩn bị các điều kiện để tận dụng cơ hội trong hội nhập kinh tế thế giới và khu vực còn nhiều bất cập.

2. Thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển còn hạn chế; hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, chưa đồng bộ, hiệu quả kết nối và chất lượng chưa cao

Huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội chưa đạt so với chỉ tiêu đề ra. Các nguồn lực trong tỉnh, nhất là nguồn lực trong dân chưa được huy động, khai thác tốt. Nguồn thu ngân sách chưa ổn định và thiếu bền vững. Nhiều dự án được chấp thuận đầu tư chậm triển khai nhưng chậm tháo gỡ ách tắc. Nguồn lực đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng còn hạn chế; hạ tầng giao thông chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; tiến độ triển khai xây dựng hệ thống thủy lợi, các khu neo đậu tàu thuyền, tránh trú bão, kè chống xâm thực, đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp nói chung còn chậm... Hạ tầng xã hội về y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao còn thiếu và chưa đồng bộ. Hạ tầng ở các đô thị còn nhiều bất cập; một số đô thị chưa có hệ thống xử lý nước thải, rác thải …

3. Chất lượng, hiệu quả của giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, hoạt động văn hóa, thể dục - thể thao có mặt còn hạn chế; an sinh xã hội còn một số vấn đề cần quan tâm

Chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các vùng, cơ sở vật chất và trang thiết bị thiếu và chưa đồng bộ; tỷ lệ học sinh bỏ học còn cao. Đội ngũ cán bộ khoa học còn thiếu, một bộ phận năng lực hạn chế; nguồn lực thực hiện, cơ sở vật chất phục vụ công tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học – kỹ thuật chưa đảm bảo, cơ chế hoạt động của các Trung tâm khoa học – kỹ thuật chậm đổi mới. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực y tế chưa đáp ứng yêu cầu; công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ, bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh còn hạn chế; môi trường có lúc, có nơi bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng không ít đến sức khỏe của người dân; phong trào thể dục, thể thao chưa mạnh. Chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung chưa đáp ứng kịp yêu cầu thực tế; chất lượng đào tạo nghề còn bất cập, hiệu quả chưa cao; lao động chưa qua đào tạo, lao động thiếu việc làm và việc làm không ổn định còn nhiều. Cơ sở vật chất, phương tiện và các thiết chế văn hoá, thể dục - thể thao thao còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu hưởng thụ văn hóa, vui chơi, giải trí của nhân dân. Công tác xã hội hóa trên lĩnh vực văn hóa có mặt hạn chế. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” chuyển biến chưa đều, nhiều nơi hình thức; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp. Đời sống một bộ phận gia đình chính sách và một bộ phận nhân dân còn khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số, vùng căn cứ kháng chiến, vùng bãi ngang ven biển; giảm nghèo, thoát nghèo chưa bền vững, khả năng tái nghèo ở một số địa bàn còn cao.

4. Quốc phòng – an ninh có mặt còn hạn chế, trật tự an toàn xã hội từng nơi, từng lúc còn diễn biến phức tạp

Ý thức cảnh giác cách mạng trong một số cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa được đề cao thường xuyên. Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận biên phòng toàn dân có mặt chưa vững chắc. Công tác nắm bắt tình hình, xử lý thông tin có mặt chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao. Chất lượng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc” chưa đều. An ninh cơ sở có lúc, có nơi còn diễn biến phức tạp, còn tiềm ẩn những nhân tố bất ổn, nếu giải quyết không tốt dễ dẫn đến “điểm nóng”; tình trạng khiếu kiện đông người vượt cấp vẫn chưa chấm dứt; một số tệ nạn xã hội, nhất là ma túy, số đề và tội phạm mới có chiều hướng gia tăng; tai nạn giao thông giảm chưa căn bản. Chất lượng một số mặt của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang còn hạn chế so với yêu cầu nhiệm vụ.

5. Đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước các cấp chưa theo kịp yêu cầu phát triển; dân chủ, kỷ cương trong đời sống xã hội chưa được bảo đảm đúng mức

Hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp có mặt còn hạn chế, nhất là ở cấp xã, phường, thị trấn. Bộ máy quản lý hành chính nhà nước các cấp nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu; hiệu lực và hiệu quả hoạt động có lúc, có nơi chưa cao. Trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế; kỷ luật, kỷ cương hành chính có lúc, có việc chưa nghiêm; công tác quản lý nhà nước trên một số mặt chưa chặt chẽ, nhất là quy hoạch, quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, xây dựng cơ bản, trật tự đô thị và môi trường.

Công tác cải cách tư pháp chưa theo kịp yêu cầu, chất lượng có mặt còn hạn chế; đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng, một bộ phận yếu về trình độ và năng lực nghiệp vụ, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức lối sống. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật chưa được đẩy mạnh thường xuyên, trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận công dân chưa cao, cá biệt có một số ít xem thường kỷ cương, phép nước. Trên một số lĩnh vực, có nơi, có lúc dân chủ chưa được phát huy đúng mức, có trường hợp lợi dụng dân chủ làm những việc ảnh hưởng đến an ninh trật tự.

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát phát hiện tham nhũng còn hạn chế; vai trò của hệ thống chính trị và trách nhiệm của người đứng đầu ở cơ sở trên lĩnh vực này chưa được phát huy đúng mức; chống lãng phí chưa được thật sự coi trọng và chưa gắn chặt với chống tham nhũng. Tiêu cực, tham nhũng còn xảy ra, nhất là trên một số lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp. Tiến độ xử lý một số vụ án bức xúc còn chậm, gây nghi ngờ, bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

6. Công tác dân vận chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Nhận thức về công tác dân vận của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa đầy đủ, đúng mức; có nơi, có lúc vẫn còn biểu hiện nặng mệnh lệnh hành chính hơn là tuyên truyền, vận động, thuyết phục. Công tác vận động quần chúng chuyển biến chưa đều ở các địa bàn, lĩnh vực; đổi mới nội dung, hình thức chưa mạnh; công tác dân vận chính quyền chưa tốt. Thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân còn nhiều lúng túng; không ít nơi chưa nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để phối hợp với các cấp chính quyền giải quyết kịp thời những bức xúc nổi lên. Công tác xây dựng, phát huy lực lượng cốt cán chính trị còn nhiều hạn chế.

7. Công tác xây dựng Đảng trên một số mặt còn yếu kém, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng nhìn chung còn thấp; sự chuyển biến qua kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) chưa đều

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng chậm đổi mới so với yêu cầu; tính chiến đấu, tính kịp thời có lúc, có việc chưa tốt. Chưa coi trọng việc trang bị bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên; một số nơi việc triển khai các biện pháp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu kiên quyết, chưa kịp thời, hiệu quả còn hạn chế; việc đấu tranh với các luận điệu, thông tin xấu, đồi trụy trên Internet chưa được coi trọng. Một số cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh còn lúng túng, chưa chú trọng đúng mức khâu phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng những điển hình tiên tiến.

Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở một số nơi chưa được củng cố, kiện toàn kịp thời; hoạt động chưa thật sự đồng bộ, thông suốt. Công tác đánh giá, quản lý cán bộ vẫn còn nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu”. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức năng lực hạn chế; nói không đi đôi với làm, tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ chưa cao, có biểu hiện làm việc cầm chừng, chưa tự giác rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, còn sa vào quan liêu, tiêu cực, tham nhũng.

Sự chuyển biến qua kiểm điểm theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) chưa nhiều. Năng lực vận dụng, cụ thể hóa nghị quyết, khả năng xử lý tình huống của một số cấp ủy còn hạn chế, lúng túng. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu không ít tổ chức cơ sở Đảng và một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cao. Ở một số cơ sở, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, ý thức tự phê bình và phê bình, chưa được thực hiện nghiêm túc, đoàn kết nội bộ chưa thực sự bảo đảm. Công tác tự kiểm tra, giám sát của tổ chức cơ sở đảng chưa được thường xuyên coi trọng, thiếu chủ động, nhất là kiểm tra, giám sát trên các lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và trách nhiệm của người đứng đầu.

III- ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Năm năm qua, Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà đã ra sức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đạt kết quả tích cực và khá toàn diện. Mặc dù trong điều kiện khó khăn, song kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ khá; hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu đã và đang được tiếp tục đầu tư, nhất là hệ thống thủy lợi được phát huy khá tốt; nhờ vậy đã thúc đẩy khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của tỉnh, trước hết trên lĩnh vực nông nghiệp; bộ mặt đô thị và nông thôn, cả vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục khởi sắc; chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên; đời sống nhân dân được cải thiện, các chính sách đền ơn đáp nghĩa, phúc lợi xã hội và an sinh xã hội được bảo đảm; quốc phòng được tăng cường, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội căn bản được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng có chuyển biến tiến bộ, từng bước đi vào chiều sâu; hệ thống chính trị ngày càng nâng dần hiệu lực, hiệu quả hoạt động; dân chủ được phát huy, phong trào thi đua yêu nước được duy trì khá tốt, xuất hiện nhiều tấm gương, mô hình tiêu biểu, năng động, sáng tạo… Những kết quả ấy tạo tiền đề quan trọng để thúc đẩy tỉnh nhà phát triển nhanh hơn trong thời gian tới.

Đạt được những kết quả trên đây, bên cạnh sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của các cơ quan Trung ương, song chủ yếu là:

- Các cấp ủy Đảng đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu, quán triệt, vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đề ra nhiệm vụ và giải pháp cụ thể tương đối sát hợp với tình hình và đặc điểm cụ thể của tỉnh nhà.

- Có sự nỗ lực, phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở trong cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện chủ trương của các cấp ủy tương đối kịp thời và có hiệu quả.

- Phong trào thi đua hành động cách mạng của quần chúng được duy trì khá tốt trên các lĩnh vực, các địa bàn; tạo được sự đồng thuận và đoàn kết, quyết tâm phấn đấu của cả hệ thống chính trị và của các tầng lớp nhân dân trong quá trình triển khai nghị quyết do Đại hội đề ra.

Tuy nhiên, nhìn chung tình hình các mặt của tỉnh phát triển còn chậm, có mặt chưa vững chắc. Một số chỉ tiêu chủ yếu không đạt kế hoạch đề ra. Năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế nhìn chung còn yếu. Hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, chất lượng nguồn nhân lực còn bất cập so với yêu cầu. Đời sống một bộ phận nhân dân lao động ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình chính sách còn khó khăn; mức độ thụ hưởng các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa giữa các vùng còn chênh lệch. Việc xây dựng các thiết chế văn hóa chưa được quan tâm đúng mức. Một số điểm ô nhiễm môi trường, một số vụ việc bức xúc về mặt xã hội chưa được giải quyết căn bản triệt để; an ninh nông thôn và trật tự xã hội có lúc, có nơi còn diễn biến phức tạp, nếu xử lý không tốt dễ dẫn đến “điểm nóng”; dân chủ chưa gắn liền với kỷ cương, phép nước. Chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị chưa đáp ứng được yêu cầu; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng nhìn chung còn hạn chế so với nhiệm vụ và yêu cầu đặt ra; tệ lãng phí, quan liêu, tham nhũng chưa được ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả… Những yếu kém trên đã làm cản ngại không ít đến quá trình phát triển của tỉnh nhà.

Tình hình trên, có những yếu tố khách quan tác động và không lường trước; nhất là tình hình lạm phát của nền kinh tế, nhưng chủ yếu và trước hết là do:

- Năng lực lãnh đạo của cấp ủy, sự điều hành của chính quyền các cấp, sự quyết tâm và nỗ lực của cả hệ thống chính trị nhìn chung chưa đều, chưa cao, chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ.

- Một số khó khăn, vướng mắc, nhất là trên lĩnh vực kinh tế chậm được tháo gỡ, còn lúng túng; các nguồn nội lực chưa được khai thác tối đa, các nguồn ngoại lực chưa được thu hút và phát huy có hiệu quả; tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương chưa đủ mạnh; khả năng dự báo kém, một số chỉ tiêu đề ra không phù hợp, thiếu tính khả thi.

- Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ nhìn chung còn bất cập, một bộ phận chưa tự giác và thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, trách nhiệm chưa cao, phong cách làm việc chưa đổi mới; kỷ cương, kỷ luật chưa được giữ nghiêm.

Từ thực tiễn 05 năm qua, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

1. Trong lãnh đạo, chỉ đạo phải luôn luôn nắm chắc quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận dụng một cách sáng tạo, đề ra nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp đột phá thật cụ thể, sát hợp trên cơ sở phân tích đúng tiềm năng, lợi thế, đặc điểm tình hình của địa phương, không sao chép, rập khuôn, máy móc.

2. Quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ, phải thực sự quyết liệt, đồng bộ trong cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; đổi mới mạnh mẽ phong cách lãnh đạo, chỉ đạo theo hướng vừa bao quát, toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết kịp thời những vấn đề nổi lên trong đời sống xã hội; phát huy đúng mức vai trò lãnh đạo của các cấp ủy và tổ chức Đảng, nhất là phải đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các cấp.

3. Phải đặc biệt quan tâm công tác xây dựng Đảng, nhất là công tác cán bộ, cả về phẩm chất và năng lực, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt, lãnh đạo quản lý các cấp và phải giữ vững sự đoàn kết, nhất trí cao trong nội bộ.

4. Phải thật sự dựa vào dân, tạo được sự đồng thuận rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân; khơi dậy và phát huy sức mạnh to lớn của lòng dân trên cơ sở phát huy đúng mức dân chủ; thường xuyên coi trọng và không ngừng đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trên khắp các địa bàn, các lĩnh vực; chú trọng phát hiện, xây dựng và nhân rộng những điển hình tiên tiến.

 

Phần thứ hai

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN 5 NĂM (2015 - 2020)

5 năm đến, bên cạnh những nhân tố mới, triển vọng mới cùng với những kết quả và kinh nghiệm tích lũy được trong nhiều nhiệm kỳ qua; tiềm năng và lợi thế của tỉnh nhà còn lớn. Tuy nhiên, tình hình thế giới và khu vực còn diễn biến phức tạp, khó lường; một số yếu kém, khó khăn của tỉnh chưa thể khắc phục ngay được... Tình hình đó, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh phải tiếp tục đoàn kết, phấn đấu không ngừng, ra sức khắc phục khó khăn, phát huy thuận lợi để xây dựng tỉnh nhà phát triển nhanh và vững chắc hơn trong thời gian đến.

I- MỤC TIÊU CHUNG

Ra sức xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh; tăng cường hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy hành chính nhà nước các cấp; phát huy đúng mức dân chủ Xã hội chủ nghĩa và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân; huy động tối đa các nguồn lực, thúc đẩy kinh tế tỉnh nhà phát triển nhanh và bền vững với cơ cấu công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp; hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu cơ bản đáp ứng nhu cầu; đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; môi trường được bảo đảm; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, quốc phòng được tăng cường, tạo chuyển biến rõ nét, toàn diện và vững chắc tình hình các mặt của tỉnh.

II- MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

- Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP) đạt bình quân 7-7,5%/năm; trong đó, GRDP nhóm ngành: Công nghiệp - xây dựng tăng 7,8- 8,3%; Dịch vụ tăng 8,1- 8,63%; Nông - lâm - thủy sản tăng 4,2- 4,5%.

- Bình quân hàng năm, huy động GRDP vào ngân sách (chưa tính các khoản thu trực tiếp từ dầu khí và thuế xuất nhập khẩu) là 9,5%, chi đầu tư phát triển (bao gồm trong cân đối và ngoài cân đối ngân sách) chiếm 35% tổng chi ngân sách địa phương; thu hút vốn đầu tư toàn xã hội so với GRDP chiếm 40%; giải quyết việc làm 24.000 lao động; tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) giảm từ 1 đến 1,2%/năm.

- Có ít nhất 50% tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh; trung bình mỗi năm phát triển 2.000 đảng viên; 75 - 80% tổ chức Mặt trận và các đoàn thể vững mạnh.

- Phấn đấu đến năm 2020:

+ Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 27,6%, dịch vụ chiếm 50,5 - 50,7%; nông nghiệp chiếm 21,9 – 21,7% trong GRDP.

+ GRDP bình quân đầu người đạt 3.200 USD;

+ Sản lượng lương thực đạt 811.000 tấn; sản lượng cao su 66.000 tấn; sản lượng thanh long 750.000 tấn; sản lượng hải sản khai thác 200.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu đạt 600 triệu USD.

+ Tỷ lệ lao động qua đào tạo bằng các hình thức đạt 70%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 0,87 %; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 7%; tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia đạt trên 40%.

+ 100% hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh; 95% chất thải rắn ở đô thị được thu gom xử lý; 100% các khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.

+ Tỷ lệ che phủ rừng đạt 43% (nếu tính cả cây công nghiệp và cây lâu năm đạt 55%).   

+ Có 50% số xã (48 xã) đạt chuẩn nông thôn mới;

+ 100% xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế; 80 - 85% xã, phường và cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn vững mạnh về quốc phòng, an ninh; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ chiếm từ 1,6% đến 2% dân số.

III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, CÁC LĨNH VỰC, CÁC VÙNG

1. Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế, thúc đẩy phát triển toàn diện kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Thúc đẩy mạnh mẽ phát triển công nghiệp, chú trọng đúng mức phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản; khai thác tiềm năng năng lượng, chế biến sâu quặng sa khoáng titan

Tạo điều kiện thuận lợi và tích cực đôn đốc triển khai các dự án năng lượng (nhiệt điện, phong điện, thủy điện, khí điện) để Bình Thuận sớm trở thành Trung tâm năng lượng mang tầm quốc gia. Phát huy hiệu quả, đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; thu hút đầu tư và hình thành Trung tâm chế biến sâu quặng sa khoáng titan, gắn chặt với bảo vệ môi trường, cảnh quan. Khuyến khích đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu; phấn đấu giảm dần tỷ trọng và tiến tới chấm dứt xuất khẩu các sản phẩm thô, không qua chế biến, tăng sản phẩm có hàm lượng khoa học - công nghệ cao; bên cạnh chế biến các loại thủy sản, lâm sản, chú trọng chế biến các sản phẩm từ quả thanh long, mủ trôm, mủ cao su, tảo… Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp đóng, sửa tàu thuyền; ưu tiên thu hút các dự án đầu tư các cơ sở dịch vụ phục vụ đánh bắt xa bờ. Thực hiện tốt chính sách khuyến công và biện pháp hỗ trợ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp về ưu đãi tín dụng, mặt bằng sản xuất, thông tin thị trường, tư vấn về kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực; hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động đạt hiệu quả cao.

- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển du lịch một cách bền vững

Khai thác các tiềm năng, lợi thế về biển, đảo, núi, đồi và những giá trị văn hóa của địa phương để phát triển mạnh loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá, du lịch sinh thái, phát triển các môn thể thao trên biển; đa dạng hoá các sản phẩm du lịch, liên kết với các địa phương trong tỉnh và các tỉnh lân cận để hình thành các tour, tuyến du lịch nhằm thu hút mạnh du khách; đầu tư phát triển các khu du lịch cộng đồng, các khu vui chơi giải trí, xây dựng và triển khai thực hiện tốt Đề án Trung tâm du lịch - thể thao biển mang tầm quốc gia. Giữ vững thương hiệu khu du lịch Hàm Tiến - Mũi Né. Coi trọng việc cảnh báo, phòng, cứu hộ, bảo vệ tính mạng của du khách; đặc biệt quan tâm vấn đề môi trường (cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội); không ngừng nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ và các hoạt động lễ hội. Định kỳ làm tốt khâu kiểm tra, đánh giá chất lượng các khu, điểm, cơ sở du lịch; xử lý kiên quyết và kịp thời những yếu kém, tồn tại phát sinh. Chú trọng đúng mức đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và nâng chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến đầu tư phát triển du lịch.

- Phát triển mạnh thương mại, dịch vụ, thúc đẩy sản xuất phát triển, phục vụ tốt đời sống nhân dân

Coi trọng khai thác và phát triển thị trường nội địa, chú ý tổ chức tốt các kênh phân phối; tích cực giữ vững thương hiệu và mở rộng thị phần các sản phẩm lợi thế: nước mắm Phan Thiết, nước khoáng Vĩnh Hảo, tảo, thanh long, mủ trôm, tôm giống, hải sản chế biến… Quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống chợ, siêu thị. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức cung ứng các mặt hàng thiết yếu ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Tăng cường kiểm soát giá cả, quản lý thị trường; kịp thời áp dụng các biện pháp điều tiết cung cầu, bình ổn thị trường.

Phát triển và đa dạng hóa loại hình dịch vụ. Thường xuyên kiểm tra hoạt động giao thông vận tải, chú ý tuyến giao thông giữa đất liền với đảo Phú Quý; tiếp tục mở rộng nâng cấp mạng lưới bưu chính viễn thông... nhằm không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân.

Khai thác có hiệu quả các thị trường truyền thống, đồng thời tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu theo hướng đa dạng hóa thị trường, sản phẩm; ưu tiên khai thác và tận dụng tối đa các cơ hội từ các thị trường xuất khẩu trọng điểm, chiến lược. Đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm lợi thế của tỉnh, trọng tâm là các mặt hàng thủy sản, cao su, thanh long, đồ gỗ gia dụng và mỹ nghệ. Tăng kim ngạch xuất khẩu trực tiếp và sản phẩm xuất khẩu đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu ủy thác, mua bán qua biên giới và sản phẩm sơ chế, gia công. Kiểm soát chặt chẽ các mặt hàng nhập khẩu; không khuyến khích nhập khẩu các mặt hàng trong nước đã sản xuất được. Thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Trung ương về hội nhập quốc tế; tăng cường hoạt động tuyên truyền, quảng bá, khuyến khích và tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tranh thủ các dự án có vốn tài trợ nước ngoài và các khoản viện trợ khác để đầu tư vào các lĩnh vực lợi thế, lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục của tỉnh...

- Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững

Đẩy mạnh cơ cấu lại gắn với tổ chức sản xuất nhằm phát triển nông nghiệp một cách toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, giá trị gia tăng cao; không ngừng tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, gắn với xây dựng nông thôn mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Cơ cấu lại ngành trồng trọt theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn; phát triển kinh tế trang trại; tiếp tục phát triển vững chắc các loại cây trồng chủ lực, lợi thế như cây thanh long, cao su, cây trôm và các loại cây trồng phù hợp với lợi thế, điều kiện thổ nhưỡng và khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu của từng vùng. Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương sử dụng linh hoạt, có hiệu quả diện tích đất lúa. Qui hoạch và tập trung phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo mô hình tập trung, bán công nghiệp và công nghiệp, bảo đảm vệ sinh môi trường. Hết sức coi trọng ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, bảo quản, chế biến các loại nông sản; đặc biệt chăm lo giống cây, giống con; từng bước hình thành mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; gắn chặt sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị đối với các sản phẩm lợi thế và có khả năng cạnh tranh cao; chú ý nâng cao chất lượng quả thanh long; nhân rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn, cánh đồng lúa chất lượng cao. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp, đại lý kinh doanh phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nông dân.

Làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm tệ phá rừng; giải quyết cơ bản tình trạng lấn chiếm đất rừng. Đẩy mạnh công tác trồng rừng, quan tâm trồng rừng gỗ lớn, đẩy mạnh chế biến để nâng cao giá trị các sản phẩm từ rừng.

Đẩy mạnh phát triển thủy sản theo hướng toàn diện, nâng cao hiệu quả khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Triển khai thực hiện tốt các chính sách ưu đãi của Chính phủ để đẩy mạnh phát triển năng lực tàu thuyền công suất lớn; khuyến khích phát triển mô hình tàu khai thác xa bờ gắn với dịch vụ hậu cần và chế biến trên biển, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc; tiếp tục nhân rộng và phát huy mô hình Tổ Đoàn kết sản xuất, Nghiệp đoàn nghề cá. Hạn chế tối đa phát triển thuyền công suất nhỏ; xử lý nghiêm mọi hoạt động làm cạn kiệt, hủy hoại môi trường. Tranh thủ tối đa các nguồn vốn, tăng cường đầu tư, cải tạo, duy tu, bảo dưỡng hạ tầng kỹ thuật nghề cá. Khuyến khích đầu tư thiết bị, công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến thủy sản; nhất là sản xuất tôm giống, chế biến thủy sản xuất khẩu để giảm tỷ lệ tổn thất, nâng cao chất lượng, giá trị, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. 

Ổn định diện tích vùng sản xuất muối theo quy hoạch; tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, phát triển công nghiệp sau muối để đa dạng hóa sản phẩm, tăng chất lượng muối, nâng cao hiệu quả đầu tư. Ngăn ngừa, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất và chế biến muối.

- Khuyến khích phát triển mạnh các thành phần kinh tế.

Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp đầu tư phát triển trên tất cả các ngành, các lĩnh vực mà pháp luật không cấm; tập trung trước hết vào khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tỉnh; thu hút mạnh đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào những ngành, những lĩnh vực phù hợp với quy hoạch phát triển của tỉnh, nhất là các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá, thể dục - thể thao, các vùng khó khăn,… Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu. Tiếp tục thực hiện tốt chính sách hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong nông nghiệp và khu vực nông thôn, đáp ứng yêu cầu thị trường và hội nhập quốc tế. Công khai hoá quy hoạch, cơ chế, chính sách, danh mục các công trình, các dự án kêu gọi, ưu đãi đầu tư… để các thành phần kinh tế lựa chọn và quyết định đầu tư. Bảo đảm mọi thành phần kinh tế đều được bình đẳng trước pháp luật. Phát huy đúng mức vai trò của đội ngũ doanh nhân trong xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

- Làm tốt công tác tài chính, tín dụng đáp ứng yêu cầu vốn cho sản xuất - kinh doanh

Triển khai đồng bộ các giải pháp để đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nguồn thu lớn và ổn định từ nội lực của nền kinh tế; tăng cường xúc tiến đầu tư, thu hút các dự án lớn có năng lực thực sự, tạo động lực cho kinh tế phát triển, từ đó hình thành các nguồn thu mới, bền vững. Tăng cường lãnh đạo công tác thu thuế, chống thất thu và lạm thu; chú ý quản lý, khai thác tốt các nguồn thu ngân sách trên địa bàn tỉnh; có kế hoạch tích cực và hiệu quả khai thác tốt nguồn thu từ quỹ đất; phấn đấu thực hiện tổng thu ngân sách nhà nước (trừ xổ số kiến thiết) giai đoạn 2016 - 2020 là 35.900 tỷ đồng, trong đó thu nội địa tính cân đối ngân sách (trừ thu dầu thô, thuế xuất nhập khẩu, xổ số kiến thiết) là 21.400 tỷ đồng, tăng 45% so với giai đoạn 2011 - 2015.

Bố trí chi ngân sách tích cực, tiếp tục thực hiện tốt cơ cấu đầu tư công; ưu tiên cho các nhiệm vụ trọng yếu, những công trình trọng điểm. Quản lý chặt chẽ các khoản chi, bảo đảm đúng dự toán, đúng chế độ quy định, triệt để tiết kiệm chi cho bộ máy quản lý nhà nước, sự nghiệp công, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính. Đẩy mạnh phân cấp quản lý, điều hành tài chính và ngân sách nhằm phát huy tính năng động và trách nhiệm của các huyện, thị xã, thành phố. Triển khai kịp thời các cơ chế, chính sách tiền tệ, tín dụng; đẩy mạnh các biện pháp huy động vốn, mở rộng cho vay gắn với nâng cao chất lượng tín dụng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vay phát triển sản xuất, kinh doanh; ưu tiên cho vay phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu.

2. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá, không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hoá - thể dục, thể thao; giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc; chăm lo tốt đời sống nhân dân

- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo. Triển khai tốt việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa. Tăng cường giáo dục đạo đức, nhân cách, truyền thống cách mạng, kỹ năng sống và văn hóa ứng xử, không để xảy ra tình trạng bạo lực học đường. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục; giữ vững và nâng dần chất lượng phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi. Chú trọng nâng chất lượng giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các trường dân tộc nội trú, hạn chế tối đa tình trạng học sinh bỏ học. Rà soát hoàn thiện chính sách hỗ trợ về giáo dục đào tạo cho các địa bàn khó khăn và đối tượng chính sách, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất phục vụ dạy và học gắn với tiếp tục thực hiện tốt Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên. Thường xuyên củng cố và phát huy các trường chuyên nghiệp, sắp xếp hợp lý các trung tâm giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và dạy nghề các huyện; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tạo điều kiện để Trường Đại học Phan Thiết không ngừng phát triển; tiếp tục liên kết với các trường đại học mở các khoá đào tạo tại tỉnh. Đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Quản lý chặt hoạt động của các trường, các lớp tư thục, chú ý các nhà, nhóm trẻ mẫu giáo, mầm non...

- Sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động hiện có; đẩy mạnh đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp; xây dựng một đội ngũ lao động lành nghề, làm việc có khoa học, có kỹ thuật, có năng suất, chất lượng và hiệu quả. Khuyến khích xã hội hóa công tác dạy nghề. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nghề phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của đối tượng lao động và yêu cầu thực tiễn; bảo đảm chất lượng và hiệu quả trong đào tạo nghề. Đào tạo phải bám sát nhu cầu của thị trường lao động, gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, cơ sở đào tạo nghề với các doanh nghiệp; đào tạo có địa chỉ cụ thể để khi tốt nghiệp ra trường, người lao động có việc làm và thu nhập ổn định, hướng vào mục tiêu phục vụ yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác tiềm năng, lợi thế của tỉnh nhà. Thực hiện tốt việc phân luồng học sinh; quan tâm đúng mức đến các đối tượng lao động nông thôn, gia đình chính sách, hộ nghèo, vùng nghèo, bộ đội xuất ngũ, lao động trong các hộ thuộc diện giải phóng mặt bằng, học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông không có điều kiện tiếp tục học lên các bậc cao hơn. Coi trọng đào tạo lại, thường xuyên tổ chức bồi dưỡng trang bị, cung cấp cho người lao động những kiến thức, kỹ năng, phương pháp mới đáp ứng yêu cầu ứng dụng những thành tựu khoa học – công nghệ vào sản xuất.

- Gắn chặt giữa các cơ quan khoa học công nghệ với công tác khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư và các cơ quan chức năng liên quan; đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung trước hết vào khai thác tiềm năng, các sản phẩm lợi thế của địa phương. Thực hiện tốt chính sách đổi mới công nghệ - thiết bị, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư thiết bị công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, tạo năng suất và giá trị gia tăng cao, nhất là đối với các sản phẩm lợi thế của tỉnh. Đổi mới mạnh mẽ nội dung và cơ chế, tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để không ngừng nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của đội ngũ khoa học công nghệ và các Trung tâm hoạt động khoa học công nghệ trên các lĩnh vực; hình thành các khu thực nghiệm ứng dụng công nghệ cao của tỉnh. Phát huy có hiệu quả các chương trình khoa học – công nghệ, ưu tiên thực hiện các chương trình, đề tài ứng dụng gắn với sản xuất và phục vụ sản xuất, các lĩnh vực có khả năng tạo đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin gắn với cải cách hành chính, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành. Tăng cường quản lý tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng và sở hữu trí tuệ; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc xác lập, bảo vệ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Làm tốt công tác nghiên cứu, phản biện, cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ các đề án phát triển kinh tế - xã hội, phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, hoạch định chủ trương, chính sách của địa phương.

- Tăng cường đầu tư cho sự nghiệp y tế, quan tâm đúng mức công tác y tế dự phòng; triển khai tốt công tác phòng dịch, vệ sinh an toàn thực phẩm và các chương trình y tế quốc gia; kiểm soát, khống chế dập tắt kịp thời, không để xảy ra các loại dịch bệnh. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh; phát triển mô hình bệnh viện vệ tinh và bác sỹ gia đình. Khuyến khích xã hội hóa hoạt động y tế; tạo điều kiện thuận lợi phát triển y tế ngoài công lập và hình thức hợp tác công-tư; đồng thời tăng cường quản lý chặt chẽ các cơ sở khám, chữa bệnh, nhất là cơ sở tư nhân. Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở; duy trì, củng cố và giữ chuẩn quốc gia về y tế ở tuyến xã. Tiếp tục xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện đi đôi với tăng cường đầu tư trang thiết bị theo hướng đồng bộ, hiện đại. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý ở các bệnh viện công lập theo hướng tự chủ. Triển khai có hiệu quả Luật Bảo hiểm y tế. Đặc biệt coi trọng công tác đào tạo, giáo dục, xây dựng đội ngũ thầy thuốc “sáng về y đức, sâu về y lý, giỏi về y thuật”. Kết hợp các phương pháp chữa bệnh hiện đại với y học cổ truyền. Tăng cường công tác truyền thông, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình.

- Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, thực hiện đầy đủ kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng, người nghèo, hộ nghèo, cận nghèo. Không để bất cứ hộ gia đình chính sách nào có mức sống dưới mức trung bình của cư dân cùng địa bàn. Bằng các biện pháp tích cực và hữu hiệu, tiếp tục giảm nghèo một cách bền vững trên cơ sở tiếp tục lồng ghép, thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia bằng nguồn vốn ngân sách, vốn viện trợ quốc tế và hỗ trợ của các doanh nghiệp gắn với phong trào của quần chúng nhân dân. Quan tâm đúng mức vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

- Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Đẩy mạnh xã hội hóa và chuyển mạnh các hoạt động văn hóa, thể dục - thể thao về cơ sở; phát triển mạnh phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng. Kết hợp sự hỗ trợ của Nhà nước với huy động sức dân đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá, thể dục - thể thao; ưu tiên đầu tư các thiết chế văn hóa cơ bản: Trung tâm văn hóa - thể thao tỉnh, Bảo tàng tỉnh, hoàn thiện các khu vui chơi, giải trí của trẻ em, thanh niên, Quảng trường của tỉnh, Trung tâm văn hóa - thể thao huyện, các thiết chế văn hóa cấp xã... Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu. Đặc biệt coi trọng việc xây dựng “Gia đình văn hóa”, “khu phố, thôn văn hoá” đúng thực chất. Làm tốt công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc; có kế hoạch tôn tạo, trùng tu, chống xuống cấp các di tích lịch sử, văn hoá đi đôi với sưu tầm, khai thác, phát huy tốt hơn nữa giá trị văn hoá của các dân tộc ở địa phương. Quan tâm chăm sóc và bảo vệ trẻ em, công tác gia đình, bình đẳng giới; chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi. Phát triển rộng rãi phong trào thể dục - thể thao toàn dân, có biện pháp tích cực đẩy mạnh thể thao thành tích cao, thể thao chuyên nghiệp.

3. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu

- Triển khai thực hiện tốt Luật Đất đai 2013. Tăng cường công tác quản lý tài nguyên, đất đai, rừng, biển, khoáng sản, nước... Đánh giá tiềm năng, trữ lượng các loại khoáng sản để rà soát quy hoạch, kế hoạch khai thác, quản lý, bảo vệ, bảo đảm sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả. Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, đồng thời đổi mới công tác quy hoạch sử dụng đất. Thực hiện tốt công tác phân công, phân cấp quản lý nhà nước đối với các loại tài nguyên, khoáng sản,... theo quy định của pháp luật.

- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; nâng cao chất lượng dự báo, thường xuyên kiểm tra bảo đảm an toàn đê kè, hồ chứa nước; nạo vét lòng sông, cửa biển và thoát nước ở các khu đô thị; có kế hoạch bố trí tái định cư và chủ động di dời dân ra khỏi những vùng có nguy cơ sạt lở, chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu.

- Quan tâm bảo vệ môi trường khi xem xét các dự án đầu tư; không chấp nhận đầu tư các dự án có công nghệ, trang thiết bị lạc hậu, không thân thiện với môi trường. Tăng cường các biện pháp nhằm chủ động ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục tình trạng suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường, nhất là các khu công nghiệp, du lịch, đô thị và một số vùng nông thôn. Có kế hoạch xử lý căn bản tình trạng ngập úng nước vào mùa mưa ở các đô thị. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các biện pháp xử lý nước thải, chất thải, các loại hóa chất có chứa các yếu tố gây ô nhiễm môi trường trong sản xuất, kinh doanh. Kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm và xử lý nghiêm các vi phạm. Có biện pháp tích cực chống hoang mạc hóa vùng ven biển; làm tốt công tác quản lý bảo vệ và đẩy mạnh phát triển rừng, trồng rừng ven biển, rừng đầu nguồn, trồng cây xanh ở các đô thị để góp phần cải thiện môi trường. Khuyến khích phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo.

4. Huy động nhiều nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại

- Rà soát lại toàn bộ quy hoạch tổng thể ngành, lĩnh vực, địa phương. Nâng cao chất lượng quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bảo đảm hiệu quả tổng thể và tính hệ thống, nhất là mạng lưới giao thông, điện, nước, thủy lợi, thông tin truyền thông, giáo dục, y tế. Huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đổi mới cơ chế phân bổ và quản lý sử dụng vốn trong xây dựng cơ bản, ưu tiên trước hết cho các công trình trọng điểm, bức xúc, công trình đang thi công dỡ dang để hoàn thành đưa vào khai thác, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho tư nhân đầu tư phát triển hạ tầng, phát triển các ngành, các sản phẩm lợi thế, có tiềm năng phát triển. Chú ý đúng mức phong trào nhà nước và nhân dân cùng làm; nhất là nhà nước hỗ trợ để xây dựng, chỉnh trang bộ mặt khu phố, thôn, làm thủy lợi nhỏ, giao thông nông thôn, mắc điện chiếu sáng...

- Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ; ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình quan trọng, thiết yếu; trước hết là các công trình thủy lợi, giao thông,... với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020: toàn tỉnh căn bản đủ nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt; giao thông thuận tiện, thông suốt: có cảng tổng hợp, có sân bay, các tuyến quốc lộ qua địa bàn tỉnh, các tuyến giao thông đối ngoại quan trọng, giao thông ven biển được cải tạo, nâng cấp và xây dựng hoàn chỉnh, 70% chiều dài đường giao thông nông thôn được bê tông hóa, nhựa hóa. Các khu neo, đậu tránh trú bão cho tàu thuyền ở các địa phương, trước hết ở Phú Quý, Mũi Né,... được đầu tư hoàn chỉnh và phát huy hiệu quả. Các điểm xung yếu về xâm thực bờ biển được khắc phục. Có hệ thống hạ tầng thương mại phù hợp, từng bước hoàn chỉnh theo hướng văn minh, hiện đại. Thực hiện có hiệu quả Đề án đầu tư nâng cấp chuẩn hoá cơ sở trường lớp, trạm y tế, cơ sở khám, điều trị bệnh và các thiết chế văn hoá. Đầu tư hoàn thành cơ bản kết cấu hạ tầng nông thôn.

5. Phát triển kinh tế - xã hội hài hòa giữa các vùng, các địa phương

Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, tăng cường liên kết, phối hợp giữa các địa phương trong vùng để cùng phát triển, từng bước giảm bớt mức độ chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống dân cư giữa các vùng.

- Vùng ven biển: Hình thành và phát huy vai trò các trung tâm đô thị, tập trung phát triển các ngành công nghiệp, du lịch, dịch vụ; đầu tư kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi để sớm hình thành Trung tâm năng lượng, Trung tâm chế biến quặng sa khoáng titan, Trung tâm du lịch - thể thao biển mang tầm quốc gia làm động lực lôi kéo các địa phương khác phát triển. Sử dụng quỹ đất tiết kiệm, có hiệu quả; tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, tập trung phát triển các cây trồng, con nuôi lợi thế, phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, thâm canh, gắn với công nghiệp bảo quản, chế biến và xuất khẩu. Phát triển toàn diện kinh tế biển cả về khai thác, chế biến, nuôi trồng, dịch vụ hậu cần nghề cá gắn với phát triển đa dạng các dịch vụ du lịch, đi đôi với coi trọng phát triển công nghiệp nhằm khai thác tối đa lợi thế kinh tế biển.

- Huyện đảo Phú Quý: Quan tâm bảo vệ, giữ vững môi trường sinh thái; hạn chế sản xuất nông nghiệp, tăng cường trồng cây xanh; ổn định và từng bước giảm dần qui mô dân số trên đảo; xây dựng huyện đảo Phú Quý trở thành trung tâm khai thác, bảo quản, chế biến, dịch vụ hậu cần nghề cá. Phát triển hợp lý cả về quy mô và mức độ công nghiệp chế biến, công nghiệp sửa chữa phục vụ kinh tế thủy sản và du lịch. Gắn chặt kinh tế với quốc phòng, xây dựng đảo Phú Quý thành hậu cứ vững chắc của quần đảo Trường Sa, căn cứ tiền đồn và là trung tâm cứu hộ, cứu nạn của khu vực biển Nam Trung bộ. Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu; bảo đảm giao thông thông suốt giữa đảo với đất liền; chăm lo tốt đời sống nhân dân, tạo nền tảng để huyện đảo phát triển vững chắc.

- Vùng nông thôn: Đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới đạt kết quả bền vững; trên cơ sở tiếp tục cụ thể hóa nội dung và vận dụng linh hoạt bộ tiêu chí phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu, đẩy mạnh phong trào làm giao thông nông thôn, làm thủy lợi nhỏ. Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con nuôi một cách vững chắc, phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng vùng; đẩy mạnh phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Bằng các biện pháp tích cực, có hiệu quả đẩy mạnh phong trào giảm nghèo bền vững; nâng cao chất lượng giáo dục, hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng học sinh bỏ học; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh và đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở nông thôn đi vào thực chất, coi trọng phát huy phong trào Đền ơn đáp nghĩa”, tình làng nghĩa xóm. Bảo đảm an ninh nông thôn, chặn đứng và kiên quyết đẩy lùi các tệ nạn xã hội.

- Vùng cao, miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số: Quan tâm đúng mức vùng cao, miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số; khai thác, phát huy có hiệu quả quĩ đất có được; đẩy mạnh công tác giao khoán bảo vệ rừng và trồng rừng; chú ý đào tạo và phát triển ngành nghề, chăn nuôi gia súc, gia cầm; tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, thoát nghèo bền vững; coi trọng xây dựng đời sống văn hóa, vận động xóa bỏ các hủ tục lạc hậu; tích cực nâng chất lượng giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; tăng cường các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao; tiếp tục phát huy mô hình kết nghĩa giữa các cơ quan, đơn vị, mặt trận, đoàn thể, vùng đô thị, đồng bằng với vùng cao, miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

6. Tăng cường tiềm lực quốc phòng – an ninh, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

Tiếp tục thực hiện“Chiến lược bảo vệ an ninh Quốc gia” “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức bảo vệ Tổ quốc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng ở địa phương, thường xuyên gắn chặt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân; tiếp tục triển khai tốt các biện pháp nhằm xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ vững chắc, chủ động đối phó với mọi tình huống xảy ra.

Nắm chắc tình hình, phối hợp chặt lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh, tăng cường các biện pháp nghiệp vụ, nêu cao ý thức sẵn sàng chiến đấu, đẩy mạnh phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, phát hiện và xử lý kịp thời và có hiệu quả mọi tình huống xảy ra, không để bị động, bất ngờ, không để xảy ra “điểm nóng”. Hết sức chú trọng làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, kiên quyết đấu tranh triệt phá các băng nhóm tội phạm; bằng các biện pháp tích cực và hữu hiệu, ngăn chặn và đẩy lùi các loại tệ nạn xã hội, nhất là tệ ma túy, cờ bạc; phấn đấu giảm dần tai nạn giao thông một cách căn bản… Kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch, góp phần tích cực bảo vệ biển đảo, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn toàn tỉnh.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh nhà đủ về số lượng, cơ cấu phù hợp, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân; luôn mài sắc ý chí chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, giỏi về nghiệp vụ, giữ nghiêm kỷ luật, có tư cách đạo đức tốt, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tin tưởng giao phó, phát huy đúng mức vai trò nòng cốt trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” và trong nhiệm vụ xây dựng, củng cố quốc phòng – an ninh. Làm tốt công tác gọi công dân nhập ngũ hàng năm, đảm bảo các yêu cầu về số lượng và chất lượng.

7. Ra sức xây dựng, nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước các cấp ở địa phương

- Tiếp tục đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp; chú ý đổi mới nội dung và chất lượng các kỳ họp, các cuộc tiếp xúc cử tri; đặc biệt coi trọng phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân trên các lĩnh vực theo quy định của pháp luật.

- Tiếp tục xây dựng, nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy hành chính nhà nước các cấp của tỉnh. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; nhất là trên các lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp như: đất đai, tài nguyên, khoáng sản, rừng... Duy trì và giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật. Làm tốt phân công, phân cấp; xác định rõ trách nhiệm từng cơ quan, từng ngành trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, bảo đảm sự quản lý, điều hành thống nhất, thông suốt, kỷ cương trong hoạt động từ tỉnh đến cơ sở.

- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, góp phần tích cực không ngừng cải thiện môi trường đầu tư và các nhu cầu của nhân dân, doanh nghiệp. Xây dựng đội ngũ cán bộ có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất đạo đức tốt, có tư duy sáng tạo, có năng lực, trình độ đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực vận dụng, cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết của cấp trên và kỹ năng xử lý tình huống cho đội ngũ cán bộ ở cơ sở. Tạo điều kiện thúc đẩy các dịch vụ công phát triển theo quy định của pháp luật để phục vụ tốt nhu cầu đa dạng của nhân dân.

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cải cách tư pháp một cách đồng bộ và có hiệu quả. Xây dựng các cơ quan bảo vệ pháp luật ngày càng trong sạch vững mạnh, thực sự là công cụ sắc bén của Đảng bộ, chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân. Không ngừng nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Hạn chế thấp nhất tỷ lệ án tồn đọng, oan sai, cải sửa. Phát huy thật tốt vai trò, vị trí của từng cơ quan trong hoạt động tư pháp, đồng thời bảo đảm tăng cường đúng mức sự lãnh đạo của các cấp ủy trên cơ sở chấp hành nghiêm túc các qui định của pháp luật.

- Thực hiện nghiêm và có hiệu quả Luật tiếp công dân, Luật khiếu nại, Luật tố cáo; nâng cao trách nhiệm của ủy ban nhân dân các cấp, giải quyết kịp thời các vụ việc mới phát sinh ngay từ cơ sở góp phần hạn chế tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm không ngừng nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm, nghĩa vụ công dân của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân.

- Thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các biện pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng các qui định của pháp luật về phòng chống tham nhũng. Thực hiện nghiêm các qui định về kê khai, kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường đúng mức công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; đặc biệt quan tâm đến các lĩnh vực nhạy cảm dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, như: đất đai, tài nguyên, khoáng sản, đầu tư công, cấp phát đầu tư, các nguồn quĩ...; phát huy đúng mức trách nhiệm của chi bộ, của người đứng đầu, cơ quan, đơn vị và vai trò giám sát của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Làm tốt công tác tiếp nhận và xử lý thông tin tố cáo tham nhũng, bảo vệ người phát hiện, tố cáo tham nhũng. Xử lý kịp thời, nghiêm minh mọi tổ chức và cá nhân tham nhũng, tiêu cực hoặc trù dập người tố cáo tham nhũng, tiêu cực.

8. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân

- Chăm lo xây dựng, củng cố sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, kịp thời nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các cấp, các ngành, các lĩnh vực nhằm không ngừng phát huy sức mạnh khối Đại đoàn kết toàn dân tham gia xây dựng quê hương, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước.

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước gắn với xây dựng đạo đức, phong cách công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chăm lo lợi ích chính đáng, thiết thực của nhân dân. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể theo hướng sâu sát cơ sở, sát các đối tượng quần chúng; phối hợp, tham mưu đề xuất giải quyết kịp thời những khó khăn, bức xúc trong cuộc sống của nhân dân; thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

- Tiếp tục thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở đi đôi với giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, giữ vững kỷ cương; phê phán và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để gây rối, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thông qua phong trào quần chúng, đẩy mạnh xây dựng thực lực cốt cán chính trị ở cơ sở và củng cố, tăng cường khối Đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách tự do tín ngưỡng, chính sách đối với giai cấp nông dân, công nhân, trí thức, tăng cường vận động đồng bào định cư ở nước ngoài góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

9. Đẩy mạnh công tác xây dựng đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng

Trọng tâm là tiếp tục thực hiện thật tốt Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; tập trung 3 vấn đề: (1) Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; (2) Xây dựng đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp; (3) Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng.

- Về công tác chính trị tư tưởng: Đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp công tác tư tưởng; bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tiễn cuộc sống, nắm chắc quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước để làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; nói và làm theo nghị quyết, nói đi đôi với làm. Tiếp tục đổi mới phương pháp tổ chức nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; nghiên cứu, quán triệt và cụ thể hóa nghị quyết, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước theo hướng thực chất, bảo đảm hiệu quả thiết thực, phù hợp với từng đối tượng; đưa việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nâng cao bản lĩnh chính trị, phát huy tính năng động, sáng tạo, tự giác, tinh thần đoàn kết, gương mẫu rèn luyện, xây dựng phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh, nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm trong công việc, tận tụy phục vụ nhân dân của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp; chống mọi biểu hiện cơ hội, cục bộ, thực dụng, cá nhân chủ nghĩa. Coi trọng đúng mức vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Khắc phục có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; phòng chống “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Làm tốt công tác thông tin hai chiều, đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của cán bộ, đảng viên, nhân dân phù hợp với từng đối tượng; nắm bắt và định hướng kịp thời dư luận xã hội; tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với các cơ quan báo chí, văn hóa, văn nghệ. Coi trọng phát huy có hiệu quả vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy với chính quyền các cấp, nhất là đối với những nhiệm vụ trọng tâm, những vấn đề nhạy cảm phức tạp.

- Vê công tác tổ chức, xây dựng Đảng: Tiếp tục sắp xếp, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy gắn với kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; thường xuyên rà soát bổ sung, hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, phát huy dân chủ nội bộ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đảm bảo sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ.

 Ra sức xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh; có trình độ chuyên môn tốt; có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao; có phong cách làm việc sâu sát, khoa học; hết sức chú trọng đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, đặc biệt là cán bộ trẻ nhằm bảo đảm tính kế thừa. Thực hiện nghiêm túc và đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ, coi trọng việc đánh giá cán bộ đúng thực chất, phát huy và trọng dụng những cán bộ có đức, có tài, có tâm huyết; kiên quyết thay thế những cán bộ năng lực yếu, phẩm chất kém, uy tín giảm sút. Tiếp tục làm tốt công tác quy hoạch cán bộ gắn với đào tạo, bồi dưỡng; đẩy mạnh công tác luân chuyển, bố trí cán bộ, tạo điều kiện để cán bộ học tập, rèn luyện và trưởng thành qua thực tiễn.

Tập trung sức xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp; trước hết là năng lực vận dụng cụ thể hoá và năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng. Đặc biệt, chú trọng củng cố tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn, doanh nghiệp, các đơn vị thuộc khối nội chính, các cơ quan trọng yếu. Giữ vững khối đoàn kết nhất trí nội bộ, trước hết trong ban chấp hành, ban thường vụ các cấp ủy, trên cơ sở quán triệt và chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Hết sức coi trọng xây dựng, củng cố chi bộ, phát huy đúng mức vai trò hạt nhân chính trị của chi bộ ở cơ sở; tiếp tục đẩy mạnh việc cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, chú ý cải tiến phương pháp, cách thức ban hành, tổ chức triển khai nghị quyết và nâng cao tinh thần, thái độ, trách nhiệm từ chi ủy, đến đồng chí bí thư chi bộ và từng đảng viên; nâng cao tính chiến đấu, chất lượng và hiệu quả tự phê bình, phê bình trong sinh hoạt đảng; tiếp tục đánh giá, phân tích chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên theo hướng coi trọng thực chất. Đẩy mạnh phát triển đảng viên trẻ, nữ, trong công nhân, nông dân, trí thức, ở địa bàn dân cư, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo và trong các doanh nghiệp. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chấp hành nghiêm túc mọi qui định của Đảng và các vấn đề có liên quan đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

- Về công tác kiểm tra, giám sát: Tăng cường đúng mức và tiếp tục đổi mới công tác kiểm tra, giám sát; trọng tâm là kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ của người đảng viên; tập trung kiểm tra, giám sát những lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, dễ phát sinh tiêu cực, những đảng viên là cán bộ chủ chốt ở các cấp, các ngành, các địa phương. Phối hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra của nhà nước và hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân; coi trọng công tác phúc tra sau kiểm tra, giải quyết tốt đơn thư tố cáo, khiếu nại; bảo đảm những khuyết điểm phát hiện qua kiểm tra được khắc phục triệt để, nghiêm túc. Xử lý nghiêm minh, kịp thời những trường hợp vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước và các vụ việc tiêu cực. Thường xuyên củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra các cấp bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ. Phát huy đúng mức vai trò, trách nhiệm của tổ chức cơ sở Đảng trong công tác kiểm tra, giám sát.

- Về phương thức lãnh đạo: Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao tính chiến đấu, tính tiền phong gương mẫu, đoàn kết, trung thực, chấp hành nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, cải tiến lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả công tác của các cấp ủy đảng. Cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành phải đi sát cơ sở, sát nhân dân, phát hiện và xử lý kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tế theo phạm vi trách nhiệm của mình. Sơ kết, tổng kết kịp thời những chủ trương lớn đi đôi với quan tâm đúng mức khâu bồi dưỡng, xây dựng, phát hiện và nhân rộng những điển hình tiên tiến. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị các cấp. Tiếp tục cải tiến, nâng cao chất lượng các cuộc hội nghị; đổi mới việc ban hành nghị quyết, chương trình hành động... của các cấp ủy và của chi bộ, tổ chức cơ sở Đảng.

IV- NHỮNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CẦN TẬP TRUNG LÃNH ĐẠO

Để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ trên đây, 05 năm đến, toàn Đảng bộ cần tập trung sức lãnh đạo thực hiện 4 nhiệm vụ trọng tâm sau:

1. Ra sức xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, tập trung đúng mức cho công tác cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống gắn với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu trong đội ngũ cán bộ.

2. Tập trung triển khai các giải pháp nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế; rà soát, bổ sung và ban hành các chính sách để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tỉnh trên cơ sở thực hiện thật tốt 04 khâu đột phá: Cải cách hành chính; xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; áp dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ.

3. Tăng cường, củng cố quốc phòng, góp phần cùng cả nước giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo đảm cuộc sống bình yên cho nhân dân gắn với giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc về mặt xã hội.

4. Thực hiện tốt các chính sách đền ơn đáp nghĩa, phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững đi đôi với xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh.

*

*        *

Phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh quyết tâm tận dụng tốt thời cơ, khai thác phát huy các tiềm năng, lợi thế, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, xây dựng Bình Thuận phát triển về mọi mặt, tạo thế đi lên vững chắc góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

 

CHÚ THÍCH

 

 


([1]) Thực hiện Chỉ thị số 22 của Thủ Tướng Chính phủ; ngày 06/9/2014, UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 3206/UBND – TH; theo đó, trong giai đoạn 2010-2015 tính toán số liệu theo cả 2 phương pháp cũ và mới để tạo thuận lợi cho việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2010-2015; giai đoạn 2015-2020 tính theo phương pháp mới để đảm bảo tính chính xác và tạo sự thống nhất chung trong cả nước.

(2)  Đến nay, toàn tỉnh có 436 dự án du lịch (trong đó có 38 dự án đầu tư dịch vụ du lịch) được chấp thuận đầu tư còn hiệu lực, với vốn đăng ký đầu tư 63.738 tỷ đồng, diện tích đất được cấp là 8.197,8 ha; đã có 145 dự án đi vào hoạt động, tăng 21 dự án so với năm 2010. Trong đó có 32 dự án đầu tư nước ngoài. Có 172 cơ sở lưu trú được xếp hạng sao (3 cơ sở 5 sao, 25 cơ sở 4 sao, 11 cơ sở 3 sao, 34 cơ sở 2 sao; 30 cơ sở 1 sao) và 69 cơ sở khác. Tổng số buồng, phòng là 11.200 buồng phòng, tăng 64%, tổng lượng khách 4,2 triệu, tăng 68%, khách quốc tế 450 ngàn lượt tăng 80% so với năm 2010.

([3] ) Vốn tín dụng tăng trưởng khá; huy động tiền gửi hàng năm tăng từ 28 - 30%, dư nợ cho vay tăng từ 14 -15%.

([4]) Chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin năm 2013 xếp 14/63 tỉnh, thành phố.

([5])  Kim ngạch xuất khẩu năm 2015 ước đạt 447,7 triệu USD, đạt 121% so với kế hoạch (chỉ tiêu đề ra là 370 triệu USD); trong đó xuất khẩu hàng hoá 297,7 triệu USD, chiếm 68,63%, tăng bình quân 12,3%/năm (trong đó, nhóm hàng thuỷ sản 125 triệu USD, tăng 8%/năm; nông sản 27,7 triệu USD,  giảm 5,8%/năm và hàng hoá khác 145 triệu USD tăng 25,3%/năm); kim ngạch xuất khẩu dịch vụ du lịch 150 triệu USD, tăng bình quân 20%/năm.

([6]) Hiện có  102  dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký là 1.687,49 triệu USD; trong đó, có 67 dự án đã đưa vào hoạt động kinh doanh, 17 dự án đang xây dựng; chiếm 1,6% trong tổng số doanh nghiệp của tỉnh, tăng 44,8%; tổng vốn kinh doanh 3.079 tỷ đồng, gấp 2,7 lần; có 3.521 lao động, tăng 52,7%; doanh thu 3.476 tỷ đồng, gấp 4,63 lần so với năm 2010.

([7]) Tổng giá trị thực hiện các dự án có vốn tài trợ nước ngoài và các khoản viện trợ khác trong 4 năm 2011 - 2014 khoảng 60,868 triệu USD (vốn ODA hơn 46,388 triệu USD, nguồn viện trợ phi chính phủ (NGOs) gần 14,48 triệu USD).

([8]) Điển hình như việc phối hợp với Lãnh sự quán Nga để giải quyết 120 du khách Nga đang bị kẹt ở tỉnh do Công ty Lanta Tur Voyage (Nga) bất ngờ tuyên bố phá sản.

([9]) Diện tích thanh long đến nay khoảng 24.990 ha. 

 (10) Quản lý chặt chẽ diện tích 50.091 ha đất trồng lúa, vượt 1.193 ha so với chỉ tiêu Chính phủ giao đến năm 2015 (48.898 ha).

([11]) Toàn tỉnh có 1.075 trang trại đang hoạt động; trong đó, có 696 trang trại trồng trọt, 160 trang trại chăn nuôi, 22 trang trại thuỷ sản, 10 trang trại lâm nghiệp và 187 trang trại tổng hợp.

 (12) Dự kiến đến năm 2015, sản lượng lương thực đạt 801,6 ngàn tấn, vượt 71,6 ngàn tấn so với mục tiêu đề ra  (730.000 tấn), sản lượng thanh long ước đạt 500.000 tấn, vượt 100.000 tấn so với mục tiêu năm 2015 (400.000 tấn); 44.000 ha cao su, sản lượng mủ cao su đạt 48.000 tấn (mục tiêu năm 2015 là 40.000 – 50.000 tấn).

 (13) Toàn tỉnh hiện có 776 cơ sở cưa xẻ gỗ, kinh doanh gỗ và chế biến mộc dân dụng; trong đó có 87 cơ sở cưa xẻ chế biến gỗ; tất cả đều được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

 (14) Năm 2014, toàn tỉnh có 7.477 chiếc tàu thuyền, với tổng công suất 842 ngàn CV, bình quân 112,66 CV/chiếc (năm 2010: 74,6 CV/chiếc); trong đó, tàu có công suất từ 90 CV trở lên có 2.305 chiếc (năm 2010: 1.705 chiếc); thuyền công suất dưới 30 CV giảm còn 619 chiếc.

  (15) Năm 2015, ước sản lượng hải sản khai thác đạt 198.000 tấn, nuôi thủy sản đạt 14.000 tấn; sản xuất, tiêu thụ tôm giống 22 tỷ post, tăng 13,9 tỷ post so với 2010.

([16]) Đã thành lập thí điểm 5 nghiệp đoàn nghề cá ở các địa phương và 623 tổ đoàn kết/4.002 thuyền/25.385 lao động (trong đó có 100% tàu thuyền khai thác hải sản xa bờ tham gia).

([17]) Trên địa bàn tỉnh hiện có 7 công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước và 1 công ty nhà nước; hiện tỉnh đã phê duyệt đề án cơ cấu lại 5/8 công ty: Công ty TNHH một thành viên Xổ số kiến thiết Bình Thuận, Công ty TNHH một thành viên Công trình giao thông Bình Thuận và Công ty TNHH MTV Lâm Nghiệp Hàm Tân, Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận. Còn lại 3/8 Công ty TNHH 100% vốn nhà nước đã xây dựng xong phương án, các Sở ngành tham gia ý kiến, hiện các doanh nghiệp đang nghiên cứu chỉnh sửa hoàn chỉnh đề án. Năm 2014, Cty TNHH Xổ số kiến thiết Bình Thuận nộp ngân sách trên 510 tỷ đồng.

([18]) Đã thành lập mới 11 HTX, giải thể 6 HTX yếu kém, đến nay toàn tỉnh có 165 HTX, tăng 5 HTX so với năm 2010 và 5.164  tổ hợp tác, tập trung chủ yếu vào loại hình tổ hợp tác vay vốn, tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp và tổ đoàn kết trên biển.

([19]) Toàn tỉnh có 2.765 doanh nghiệp ngoài nhà nước, tăng 46,4%; tổng vốn kinh doanh  5.372 tỷ đồng, tăng 87,7%; với 56.950 lao động, tăng 25,4%; doanh thu hơn 36,7 ngàn tỷ đồng, tăng 66%; nộp ngân sách 967 tỷ đồng, tăng 40,5% so với năm 2010.

([20]) Thu ngân sách 5 năm là 37.511 tỷ đồng; trong đó: thu nội địa tính cân đối ngân sách (trừ thu dầu thô: 17.161 tỷ đồng, thu xuất nhập khẩu: 2.235 tỷ đồng, thu để lại đơn vị chi quản lý qua NSNN 3.386 tỷ đồng) ước thực hiện 5 năm  2011-2015 là 14.729 tỷ đồng, đạt 80% so kế hoạch, tăng bình quân hàng năm 11,65%, tăng 60% so với thực hiện giai đoạn 2006-2010.

([21]) Chi ngân sách địa phương ước thực hiện 5 năm (2011-2015) là 33.363 tỷ đồng, trong đó: chi cân đối là 22.498 tỷ đồng, chi chương trình mục tiêu quốc gia, nhiệm vụ Trung ương giao và chi đầu tư phát triển khác ngoài cân đối là 7.246 tỷ đồng, chi từ nguồn để lại quản lý qua NSNN là 3.619 tỷ đồng. Chi đầu tư phát triển (bao gồm cả trong cân đối và ngoài cân đối ngân sách) là 11.686 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 35,03% so với  tổng chi ngân sách địa phương (chỉ tiêu đề ra là 35%).

 (22)  Thực hiện PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi (giai đoạn 2010 - 2015), đến nay đã có huyện đảo Phú Quý và 87 xã đạt chuẩn Quốc gia về PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi, phấn đấu đến cuối năm 2015 sẽ đạt chuẩn phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuối theo đúng mục tiêu đã đề ra.

([23]) Đã hoàn thành nộp đơn đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với quả thanh long Bình Thuận đến 13 nước và nước mắm Phan Thiết đến 3 nước. Đã trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý “Phan Thiết” cho 51 đơn vị sản xuất kinh doanh nước mắm; trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý “Bình Thuận” cho 78 tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quả thanh long. Hỗ trợ Hiệp hội Thanh long Bình Thuận thực hiện Đề án dán tem trên quả thanh long mang chỉ dẫn địa lý, đến nay đã có 4 doanh nghiệp dán tem trên quả thanh long khi lưu thông trên thị trường. 

([24]) Đã triển khai một số chuyên đề, đề án, đề tài trên lĩnh vực xã hội và khoa học nhân văn như: Đề án “Xây dựng mô hình tổ chức, cơ sở vật chất và trang thiết bị Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện”; Đề án “Tăng cường công tác nghiên cứu, nắm bắt và xử lý thông tin dư luận xã hội” và Đề án “Chi bộ làm tốt công tác tư tưởng”; chỉ đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy xây dựng Đề tài khoa học cấp tỉnh “Công tác nắm bắt và xử lý thông tin dư luận xã hội của cấp ủy các cấp ở Bình Thuận hiện nay” và khẩn trương hoàn chỉnh chuyên đề “Tổng kết công tác xây dựng Đảng và lãnh đạo đấu tranh của tù chính trị Bình Thuận trong các nhà tù, trại giam Mỹ-Ngụy (1954-1975)”; Đề tài “Nghiên cứu sản xuất các sản phẩm lưu niệm đặc trưng của Bình Thuận phục vụ du lịch”…

(25) Đến cuối năm 2014 toàn tỉnh có 85% trạm y tế xã, phường có bác sỹ, dự ước đến năm 2015 các trạm y tế xã, phường đều có bác sỹ  (năm 2010 là 62,2%), bình quân có 5,5 bác sỹ/vạn dân, tăng 0,5% so với năm 2010, tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế là 100% (127/127), tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế là 65%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 0,92%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 14% năm 2010 xuống còn 9,8% năm 2014 và năm 2015 là 9% và trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm chủng đủ 8 loại vắc xin hàng năm đạt trên 95%.

([26]) Toàn tỉnh hiện có 22 cơ sở dạy nghề, tăng 7 cơ sở so với năm 2010; trong 5 năm (2011-2015) đã đào tạo nghề cho 69.588 người (bình quân 13.918 người/năm), trong đó đào tạo nghề cho lao động nông thôn 52.894 người (bình quân 11.192 người/năm). Giải quyết việc làm 5 năm (2011-2015) là 120.000 lao động, bình quân hàng năm giải quyết việc làm 24.000 lao động (chỉ tiêu đề ra là 24.000 lao động/năm); trong đó: đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài 220 lao động, cho vay vốn quỹ quốc gia giải quyết việc làm 11.580 người. Thực hiện Đề án 100 của tỉnh về việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ sau đại học ở nước ngoài đạt được một số kết quả, đến nay, qua tuyển chọn từ 99 ứng viên đã có 36 người được cử đi đào tạo (03 tiến sỹ, 33 thạc sỹ), trong đó 27 người (25 thạc sỹ, 02 tiến sỹ) đã hoàn thành chương trình đào tạo, 3 người đang tiếp tục học tập và 06 người học tập không đạt do hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc tự bỏ việc.

([27]) Năm 2015, có 241.000 hộ gia đình, 425 thôn, khu phố và 1.520 cơ quan, đơn vị được công nhận đạt chuẩn và giữ chuẩn về văn hóa và nếp sống văn minh.

([28]) 10 huy chương vàng, 08 huy chương bạc, 7 huy chương đồng; tham gia Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VII/2014, Bình Thuận xếp thứ 16/65 đoàn, với thành tích 12 huy chương vàng, 09 huy chương bạc, 14 huy chương đồng.

([29]) Đã tổ chức tốt các sự kiện thể thao quốc tế như: Giải lướt ván buồm cúp thế giới PWA Mũi Né – Việt Nam, Festival thuyền buồm quốc tế Mũi Né – Bình Thuận – Việt Nam năm 2011, Lễ hội Khinh khí cầu Quốc tế Việt Nam lần thứ I – Bình Thuận năm 2012 ; Hoa hậu Trái đất, Hoa hậu Đại dương; duy trì tốt các giải thể thao truyền thống, các giải thể thao có lợi thế biển như: Lướt ván buồm, diều lượn thể thao, đua thuyền truyền thống…

([30]) Đã có 28.699 người thuộc diện bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp xã hội và 460 đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đang được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội trong và ngoài công lập. Khoảng 80% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc; đã có 120/127 xã, phường được công nhận làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ, chiếm tỷ lệ 94,5%.

([31]) Trong 5 năm (2011-2015) giảm 18.713 hộ nghèo, bình quân mỗi năm giảm 3.742 hộ, đưa tỷ lệ hộ nghèo từ 9,09% đầu năm 2011, giảm còn 1,6% cuối năm 2015; giảm bình quân 1,5%/năm (chỉ tiêu đề ra là 1,5-1,7%/năm).

([32]) Đến nay, toàn tỉnh đã cấp được 412.268 Giấy chứng nhận với diện tích 684.037 ha, đạt 96,7%, so với tổng diện tích đất cần cấp.

([33]) Đã di dời 2 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng: Xí nghiệp Chế biến nước mắm Phan Thiết và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Thuận. Việc xử lý vi phạm của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường kiên quyết hơn, kể cả đề xuất hình thức đóng cửa, di dời các cơ sở này ra khỏi khu đông dân cư và yêu cầu tăng cường đầu tư xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường.

([34]) Cụ thể: (i) ưu tiên bố trí vốn để thanh toán nợ khối lượng công trình hoàn thành, (ii) ưu tiên bố trí vốn cho công trình đang triển khai thi công dở dang theo tiến độ thực hiện của từng hạng mục công trình dự án, (iii) phần vốn còn lại mới xem xét bố trí cho một số công trình khởi công mới thật sự cần thiết, bức xúc.

([35]) như Hồ Phan Dũng, Đập dâng Sông Phan. Đang tiếp tục thi công Hồ Sông Dinh 3, dự án tưới Phan Rí - Phan Thiết, kênh chuyển nước Biển Lạc - Hàm Tân, hệ thống thủy lợi Tà Pao; các công trình khởi công mới như: Các dự án kênh tiếp nước phục vụ Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân, hệ thống cấp nước Khu Lê Hồng Phong, dự án Kênh tiếp nước 812 - Châu Tá; kênh chuyển nước từ hồ Sông Móng về hồ Đu Đủ, hồ Tân Lập...

([36]) Phú Hài (Phan Thiết) và thị trấn Liên Hương, thị trấn Phan Rí Cửa (huyện Tuy Phong)...

([37]) Đường ĐT.720, ĐT.766 (huyện Đức Linh, Tánh Linh); sửa chữa, nâng cấp cầu Trần Hưng Đạo (Phan Thiết); xây mới cầu Đá Dựng (thị xã La Gi), cầu Tràn (huyện Hàm Thuận Bắc); cầu Cà Giây (huyện Bắc Bình); đê chắn sóng phía Đông cảng Phú Quý giai đoạn II,… Đã triển khai đầu tư xây dựng tuyến đường Quốc lộ 55 đoạn km96-km205, đường Hòa Thắng – Hòa Phú, đường và cầu Hùng Vương, đường Lê Duẩn (thành phố Phan Thiết), đường ĐT.712 (huyện Hàm Thuận Nam)…

([38]) Toàn tỉnh đã huy động được trên 449,4 tỷ đồng để thi công đưa vào sử dụng 1.772 tuyến đường giao thông nông thôn với tổng chiều dài gần 467,5 km và mắc điện chiếu sáng trên 200km đường; nhiều tuyến đường thôn, ngõ xóm được bê tông hóa và mắc điện chiếu sáng, có xã lên tới 80% tuyến đường giao thông nông thôn, nhất là 8 xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2014.

([39]) Vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp đạt bình quân 96,55 tỷ đồng/năm, cao hơn bình quân giai đoạn từ 2006-2010 khoảng 3,4 lần;

([40]) Đã đưa vào vận hành tổ máy số 1, tổ máy số 2 (1.244MW) dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân 2, Nhà máy thủy điện Bắc Bình, 20 turbine (30 MW) dự án Phong điện 1- Bình Thuận giai đoạn 1, dự án điện gió Phú Quý (6 MW). Đang thi công dự án Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 (1.200 MW), thủy điện Sông Lũy, La Ngâu, Đan Sách 2,3, điện gió Thuận Nhiên Phong (50MW); điện gió Phú Lạc và hoàn thiện các thủ tục để triển khai đầu tư các dự án điện gió Phước Thể, Phong điện 1 Bình Thuận giai đoạn 2, thủy điện Thác Ba; tiếp tục khởi công các dự án Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1 (1.200MW) và Vĩnh Tân 3 (1.980 MW). Đã hoàn thành tuyến đường dây 500kV Vĩnh Tân - Sông Mây (260km); dự kiến năm 2015, hoàn thành các tuyến đường dây 220kV: Vĩnh Tân - Phan Thiết (100km), Phan Thiết - Hàm Tân (63km), Vĩnh Tân - Tháp Chàm (44km). Hoàn thành đầu tư phát triển 53,56 km đường dây 110kV; 952 km đường dây trung thế 22kV; 134,5 km đường dây hạ thế 0,4kV. Đầu tư phát triển 1.200 MVA trạm biến áp 500kV; 375 MVA trạm biến áp 110 kV; 435,6 MVA trạm biến áp 22/0,4kV. Đến nay, toàn tỉnh có 100% xã, phường, thị trấn trên đất liền có điện lưới quốc gia để sử dụng; có 98,9% hộ sử dụng điện, trong đó khu vực nông thôn đạt tỷ lệ là 98,1%; 3 xã tại huyện đảo Phú Quý được sử dụng điện từ nhà máy phát điện diesel kết hợp điện gió với thời lượng tăng từ 16 giờ/ngày lên 24 giờ/ngày.

([41]) Đã đầu tư xây dựng và cải tạo nâng cấp 30 chợ (trong đó: xây dựng mới 25 chợ; cải tạo, nâng cấp 5 chợ); phát triển thêm 24 cửa hàng xăng dầu (2 tàu dầu trên biển), 82 cửa hàng kinh doanh khí hóa lỏng; hoàn thành đưa vào hoạt động Kho trung chuyển xăng dầu Hòa Phú. Đến nay toàn tỉnh có 177 chợ, 2 siêu thị và một số siêu thị chuyên doanh theo ngành hàng, có 244 cửa hàng kinh doanh xăng dầu, 317 của hàng kinh doanh khí hóa lỏng. Đặc biệt, việc hoàn thành đầu tư và đưa vào hoạt động Trung tâm thương mại tổng hợp Lotte – Phan Thiết và một số siêu thị chuyên doanh theo ngành hàng như: điện máy, điện thoại, thời trang...

([42]) Hệ thống thoát nước trên địa bàn thành phố Phan Thiết cùng với việc Quy hoạch thiết kế đô thị hai bên trục đường 706B; quy hoạch phân khu chức năng khu vực Bắc kênh thoát lũ Phan Thiết; quy hoạch chi tiết xây dựng khu vực dọc 2 bên bờ sông Cà Ty - thành phố Phan Thiết, quy hoạch chung xây dựng khu vực ven biển Tân Thắng - Thắng Hải, huyện Hàm Tân; quy hoạch chi tiết khung hạ tầng kỹ thuật khu vực dọc biển từ khu vực Long Sơn - Suối Nước (Phan Thiết) đến Hòa Thắng (Bắc Bình).

([43]) Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học tiếp tục được tăng cường đầu tư theo hướng chuẩn hóa, kiên cố hóa. Số trường lớp được đầu tư theo hướng kiên cố hoá và chuẩn hóa ngày càng tăng; tỷ lệ trường công lập đạt chuẩn quốc gia từ 20 trường đạt 6,48% (năm 2010) tăng lên 110/592 trường đạt 18,6% (năm 2014), dự ước đạt 238/592 trường, đạt 25% (2015), tăng 218 trường so với năm 2010. Tổng số phòng học của các trường mầm non và phổ thông hiện nay là 6.923 phòng (tăng 156 phòng so với năm 2010), trong đó có 4.312 phòng học kiên cố, chiếm tỷ lệ 62,28% (tăng 664 phòng so với năm 2010). Trong 4 năm 2011-2014 đã đầu tư xây mới, bổ sung 726 phòng học, phòng học bộ môn các cấp học mầm non và phổ thông. Triển khai đầu tư trang thiết bị cho các trường dạy nghề ở các địa phương (các huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Phú Quý và thị xã La Gi). Một số công trình y tế đã được đầu tư hoàn thành, đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả như Trung tâm phòng chống HIV/AIDS, các trung tâm y tế (Tánh Linh, Đức Linh, Hàm Thuận Nam, La Gi), các bệnh viện (Hàm Tân và Hàm Thuận Bắc), Bệnh viện Quân dân y huyện Phú Quý; các bệnh viện Đa khoa khu vực phía Bắc và phía Nam tỉnh; xây mới đưa vào sử dụng một số trạm y tế xã: Huy Khiêm, Đồng Kho, Đức Thuận, Đức Phú,... Bệnh viện Y dược học cổ truyền và phục hồi chức năng quy mô 300 giường và khoa Ung bướu - Bệnh viện Đa khoa tỉnh. Một số bệnh viện huyện Tuy Phong, Hàm Tân, Hàm Thuận Bắc,…và Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải y tế. Các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện được đầu tư một số trang thiết bị y tế hiện đại như máy CT. Scanner 8 lát cắt, máy MRI, máy chạy thận nhân tạo, hệ thống mổ nội soi, hệ thống nội soi khí phế quản, máy sinh hóa bán tự động, máy huyết học tự động 18 thông số, máy thở, máy Xquang di động, xe cứu thương,..

([44]) Đã nâng cấp 21 công trình thủy lợi, 74 trường học, 4 công trình y tế, 46 công trình cơ sở vật chất thiết chế văn hóa, xã hội, 10 công trình điện… với tổng kinh phí 1.420 tỷ đồng.

([45]) Đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện đáng kể, bình quân mỗi năm giảm 753 hộ nghèo, tương ứng với 2,68%, đưa tỷ lệ hộ nghèo từ 22,95% (năm 2011) xuống còn 9,55% (năm 2015); đến nay, có 100% xã thuần đồng bào dân tộc thiểu số có cán bộ chủ chốt là người dân tộc thiểu số tại chỗ.

([46]) Năm 2013, chỉ số PCI của tỉnh tăng 25 bậc, đứng thứ 22/63 tỉnh, thành phố; năm 2014 chỉ số PCI của tỉnh đứng thứ 23/63 tỉnh, thành phố nằm trong nhóm dẫn đầu các tỉnh xếp loại Khá và phấn đấu tiếp tục giữ vững thư hạng trong những năm sau.

([47]) Tham nhũng, tiêu cực ở một số lĩnh vực về đất đai, tài chính được kiềm chế; lãng phí từng bước có khắc phục, thực hành tiết kiệm có chuyển biến rõ hơn. Trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền và người đứng đầu các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương được tăng cường. Công tác thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố xét xử được đẩy mạnh, việc xử lý vi phạm có hiệu quả hơn.  

([48]Từ năm 2010 đến cuối năm 2014, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 22 tổ chức đảng (01 ban thường vụ cấp ủy trực thuộc tỉnh, 10 đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy cơ sở và 11 chi bộ) với hình thức khiển khách 17, cảnh cáo 05. Nội dung vi phạm chủ yếu là việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, qui định, kết luận của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, qui chế làm việc, nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết nội bộ. Đối với đảng viên đã thi hành kỷ luật 507 đồng chí (97 là đảng viên cấp ủy viên các cấp, trong đó có 01 tỉnh ủy viên, 22 huyện ủy viên và tương đương); với các hình thức khiển trách 296, cảnh cáo 167, cách chức 28, khai trừ 13. Nội dung chủ yếu là: vi phạm những điều đảng viên không được làm, thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình; đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tham nhũng, cố ý làm trái, tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng cơ bản.

([49]) Trong 5 năm qua đã phát triển 8.078 đảng viên, vượt 15,4% chỉ tiêu đại hội đề ra, bình quân phát triển 1.615 đảng viên/năm.

([50]) Sau kiểm điểm Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số 27-CT/TU, ngày 01/10/2012 về việc nâng cao trách nhiệm và chấn chỉnh tác phong, giờ giấc làm việc, ý thức chấp hành của cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh; Chỉ thị số 30-CT/TU, ngày 08/01/2013 về đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sinh hoạt, công tác; Kế hoạch số 49-KH/TU, ngày 25/10/2012 xác định 12 việc cụ thể cần tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện ngay và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm thực hiện.

Đính kèm nội dung Báo cáo Chính trị

 

VĂN PHÒNG TỈNH ỦY
In tin bàiLưu tin bài
CÁC TIN KHÁC


 
 
 
 Gửi ý kiến bình luận

Tối đa 250 kí tự.





 


Android APK